Chọn kinh tế hay nhân quyền?

download

Việt Nam vừa muốn phát triển kinh tế, vừa không muốn nới lỏng vấn đề nhân quyền

Việt Nam nên làm gì và làm như thế nào để có thể cân bằng một cách tốt nhất trước những thử thách mà nước này đang đối mặt: sức mạnh của Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực (RCEP), và của Hiệp định Đối tác Kinh tế Xuyên-Thái Bình Dương (TPP)?

Cùng muốn đóng vai trò quan trọng trong tương lai kinh tế của khu vực Châu Á–Thái Bình Dương, cả hai hiệp định đều mang tính thử thách cao vượt ra ngoài những vấn đề cơ bản liên quan tới thương mại, kinh tế mà Hà Nội đã từng gặp trước đây.

Tuy khá giống nhau về nội dung tự do hóa thương mại cũng như hợp tác kinh tế, nhưng thực chất hai hiệp định này lại mang tính đối lập vì cả Hoa Kỳ và Trung Quốc đều muốn khẳng định sức mạnh của họ trong khu vực.

Việt Nam tham gia cả RCEP lẫn TPP và ngày càng muốn cân bằng mối quan hệ hợp tác kinh tế với Trung Quốc lẫn Hoa Kỳ.

Trung Quốc và RCEP

RCEP (Regional Comprehensive Economic Partnership)

  • Được bàn thảo từ 2006, nay RCEP bao gồm 16 quốc gia trong khu vực châu Á–Thái Bình Dương
  • Các thành viên gồm 10 quốc gia ASEAN (Indonesia, Malaysia, Philippines, Singapore, Thái Lan, Brunei, Việt Nam, Lào, Miến Điện, Campuchia), Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản, Hàn Quốc, New Zealand và Úc (gọi tắt là ASEAN+6)
  • RCEP không có sự hiện diện của Hoa Kỳ

Mục đích của RCEP là củng cố thêm hiệp định tự do Thương mại trong khối ASEAN lẫn các quốc gia không nằm trong khối nhằm cân bằng và tạo thêm sức ảnh hưởng lên các hiệp định thương mại này.

RCEP có thể giúp thúc đẩy thương mại Việt Nam vượt xuyên ra khu vực châu Á–Thái Bình Dương.

Tuy nhiên, thời gian gần đây Hà Nội thường xuyên có những mối lo ngại lớn hơn về mặt chiến lược đối với sự áp đảo ngày càng gia tăng của Trung Quốc, đặc biệt các vụ tranh chấp quanh quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa ở Biển Đông.

Gần đây Hà Nội đã hoan nghênh tiếp nhận những lời đề nghị mang tính hợp tác từ phía Hoa Kỳ, nhưng những bước tiến này vẫn chưa đủ mạnh đến mức có thể làm Trung Quốc phiền lòng.

Nếu không có sự đối trọng đến từ Hoa Kỳ, Việt Nam có thể sẽ mắc phải sự chi phối kinh tế từ Bắc Kinh, đặc biệt khi Việt Nam vẫn là nước tiêu thụ lượng hàng nhập khẩu rất lớn từ Trung Quốc.

Hoa Kỳ và TPP

Với Hà Nội, tầm quan trọng của TPP không thể xem nhẹ vì nó sẽ giúp mở rộng thêm nhiều cơ hội kinh tế đối với Việt Nam và đẩy mạnh việc xuất khẩu sang thị trường tiêu thụ lớn nhất thế giới bên kia Thái Bình Dương.

TPP cũng bao gồm nhiều thành viên RCEP, nhưng quy mô rộng lớn của TPP đòi hỏi các nước thành viên đầu tiên phải giải quyết những khác biệt trước khi nêu ra bất kỳ mối quan ngại nào trong các vòng đàm phán TPP, bao gồm cả việc bảo vệ và nâng cao các điều luật trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ.

TPP (Trans-Pacific Partnership)

  • TPP là Hiệp định Tự do Thương mại do Hoa Kỳ chủ xướng với mục đích hội nhập các nền kinh tế thuộc 12 quốc gia Xuyên-Thái Bình Dương
  • Khởi đầu là TPSEP, gồm bốn thành viên sáng lập hồi 2005 là Brunei, Chile, New Zealand, Singapore. Tới 2010 TPSEP được đề xướng mở rộng thành TPP, với các nước đang đàm phán tham gia là Australia, Canada, Malaysia, Mexico, Nhật Bản, Peru, Hoa Kỳ, và Việt Nam
  • TPP không có sự tham gia của Trung Quốc

Tuy nhiên, điều có lợi cho nhân dân Việt Nam thì chưa hẳn đã thuận ý các lãnh đạo chóp bu tại nước cộng sản này, nhất là khi TPP có thể bao gồm các điều khoản liên quan đến nhân quyền làm điều kiện gia nhập.

Cho đến giờ phút này, Hoa Kỳ vẫn còn quan ngại về những yếu kém liên quan đến hồ sơ nhân quyền tại Việt Nam.

Đây cũng chính là lý do khiến đối thoại nhân quyền thường niên năm 2012 giữa Washington và Hà Nội bị trì hoãn. Mặc dù Washington có thúc ép tới đâu thì tình hình nhân quyền tại Việt Nam vẫn ngày càng xấu đi kể từ khi nước này được gia nhập vào WTO hồi năm 2007.

Việc này được thể hiện qua các vụ bắt bớ các nhà hoạt động xã hội, nhà báo, bloggers, và những nhân vật sinh hoạt chính trị ôn hòa có ý kiến trái chiều với Đảng Cộng sản Việt Nam.

Cải thiện nhân quyền

Để rút ngắn khác biệt giữa hai nước, Hoa Kỳ có thể bắt đầu bằng việc yêu cầu Việt Nam cải cách những điều khoản cơ bản về luật lao động, bao gồm cả việc cho phép thành lập các công đoàn độc lập không bị kiểm soát bởi Đảng Cộng sản Việt Nam.

TPP có khả năng sẽ đề cập đến các vấn đề liên quan tới quyền lao động, mặc dù cho đến nay TPP vẫn chưa chính thức cam kết thiết lập quy chuẩn lao động và cơ chế thi hành.

TPP có thể giúp VN đẩy mạnh việc xuất khẩu sang bên kia Thái Bình Dương

Thậm chí nếu Hà Nội không tham gia vào TPP, Hoa Kỳ vẫn có thể yêu cầu Việt Nam thể hiện ý định cải cách, bắt đầu bằng việc cho phép công nhân có quyền tự do thành lập nghiệp đoàn và thương lượng tập thể.

Hiện vẫn chưa rõ sự khác biệt về nhân quyền giữa Hoa Kỳ và Việt Nam sẽ được giải quyết như thế nào nhưng có một số nhượng bộ mà lãnh đạo Việt Nam có thể dễ dàng đáp ứng, bao gồm cả việc thả một số nhân vật bất đồng chính kiến và nới lỏng chính sách kiểm duyệt Internet.

Các lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam có thể cần phải vượt qua thử thách về nhân quyền và tìm cách dung hòa với Hoa Kỳ nhưng rất khó để họ nới lỏng hệ thống kiểm soát chính trị chặt chẽ hiện nay nhất là đối với những ý kiến bất đồng mang tính tổ chức.

Nếu việc cải cách diễn ra quá mạnh mẽ, Đảng Cộng sản có thể vô tình làm tăng thêm sức mạnh cho các nhà hoạt động dân chủ và những tiếng nói phản biện hay đối lập.

Nhưng nếu Đảng Cộng sản không thực sự cải cách hoặc quá trình cải cách không mang lại hiệu quả như mong đợi thì Việt Nam đứng trước khả năng đánh mất cơ hội gia nhập TPP.

Sửa đổi luật lao động có thể chỉ là bước khởi đầu trong các vòng đàm phán.

Khi các thỏa thuận của TPP được thực hiện, có khả năng rất lớn rằng các tổ chức bảo vệ nhân quyền cũng như nhiều nhóm vận động khác nhau sẽ lên tiếng yêu cầu Việt Nam trả tự do cho toàn bộ các tù nhân chính trị bị cáo buộc bởi các điều khoản mập mờ như “tuyên truyền chống nhà nước”, “hoạt động nhằm lật đổ chính quyền” hay “lợi dụng quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích nhà nước”.

Nếu Hoa Kỳ tạo sức ép quá mạnh về những vấn đề liên quan đến nhân quyền, Việt Nam có thể rút khỏi TPP.

Nhưng nếu Hoa Kỳ đặt chính sách hợp tác kinh tế thương mại lên trên những nguyên tắc cơ bản về dân chủ và nhân quyền thì chính phủ của Tổng thống Obama có thể phải đối mặt với nhiều phản đối từ Quốc hội cũng như các nhóm bảo vệ nhân quyền.

Quyền lợi quốc gia

Các quan chức Tiên Lãng nhận mức án nhẹ hơn nhiều so với gia đình Đoàn Văn Vươn

VN đã bắt bớ các nhà báo, bloggers, và những người ý kiến trái chiều với Đảng CS

Lựa chọn các hiệp định kinh tế thương mại để phát triển đất nước nhất thiết phải đặt lợi ích kinh tế, chính trị và con người trên tất cả các lợi ích của bất cứ một nhóm cá nhân hay tổ chức nào.

Nhân quyền là điểm khác biệt quan trọng giữa TPP và RCEP, vì RCEP không kèm theo bất cứ yêu cầu nào liên quan đến chính trị để làm điều kiện đầu tiên khi gia nhập.

Tuy nhiên, trong lúc Trung Quốc ngày càng quyết đoán hơn ở Biển Đông thì điều một nước nhỏ như Việt Nam cần hướng đến là một nền kinh tế không bị lệ thuộc và một đồng minh đủ tin tưởng hoặc ít nhất là đủ mạnh để hỗ trợ cho mình.

Hà Nội đã hé lộ trong các mối quan hệ chiến lược rằng Việt Nam đang cần Hoa Kỳ để đối trọng lại sức ảnh hưởng đang ngày càng gia tăng của nước láng giềng đầy tham vọng phương Bắc.

Tuy nhiên, để tiến tới mối quan hệ toàn diện thì không thể bỏ qua yêu cầu của Hoa Kỳ về một số cải cách quan trọng liên quan tới nhân quyền, điều mà các lãnh đạo Việt Nam đã cố tình cưỡng lại kể từ khi gia nhập WTO hồi năm 2007.

Có thể thấy rằng các lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam đang đứng trước ngã ba đường và việc lựa chọn không hề dễ dàng.

Nhưng để đảm bảo cho nền kinh tế phát triển bền vững, đồng thời hạn chế sự ảnh hưởng của Trung Quốc và duy trì sự sống còn của mình, liệu các nhà lãnh đạo Việt Nam còn lựa chọn thông minh nào khác hơn là việc nới lỏng một số quyền kiểm soát chính trị theo những gì người dân đáng được hưởng?

nguồn: http://www.bbc.co.uk

Ai quyết định việc đốn chặt 6700 cây xanh?

nguồn: RFA-23-03-2015

Bãi tập kết hàng ngàn cây đã bị đốn hạ

Bãi tập kết hàng ngàn cây đã bị đốn hạ

Chủ tịch Hội các ngành sinh học Việt Nam GSTS Nguyễn Lân Dũng đề nghị Thanh tra Chính phủ vào cuộc vụ Hà Nội triệt hạ 6.700 cây xanh, cũng như truy cứu trách nhiệm những người ký quyết định và thực hiện chủ trương này. Vấn đề này được nêu lên tại cuộc tọa đàm do Trung tâm Con người và Thiên nhiên phối hợp với Trung tâm Truyền thông giáo dục cộng đồng tổ chức chiều nay 23/3 tại Hà Nội.

Báo chí do nhà nước quản lý cũng như các trang mạng xã hội đồng loạt đưa tin về điều gọi là “Cơn bão trong lòng người dân”, sự phản ứng quyết liệt hành động chặt hạ những hàng cây xanh cổ thụ rợp bóng mát, từng tạo nên nét đặc trưng đầy thơ mộng của thủ đô Việt Nam.

Trước sự phản ứng chưa từng có không riêng gì của người dân Thủ đô, ngày 20/3 Chủ tịch UBND Thành phố Hà Nội Nguyễn Thế Thảo đã phải ra quyết định ngừng chiến dịch chặt 6.700 cây xanh. Ông Thảo cũng ra lệnh đình chỉ công tác một số cán bộ cấp phòng của Sở Xây dựng Hà Nội để thanh tra vụ việc. Việc này cũng gặp phản ứng bất lợi,  giới phản biện cho rằng đây là hành động thí tốt, vì việc chặt hạ 6.700 cây xanh được quyết định từ cấp cao nhất của Thành phố và cán bộ công chức cấp dưới chỉ là người thừa hành.

Tại cuộc tọa đàm chiều nay 23/3, GSTS Nguyễn Lân Dũng, Chủ tịch Hội các ngành sinh học Việt Nam nhấn mạnh, quyết định chặt 6.700 cây chiếm tỷ lệ 1/7 cây xanh Hà Nội. GS Nguyễn Lân Dũng trích các nguồn tin trên mạng xã hội mô tả việc Hà Nội chặt cây nhanh hơn cả lâm tặc. Ông cũng nghi ngờ việc Chính quyền nói vừa qua mới chỉ chặt 500 cây, con số mà GSTS Nguyễn Lân Dũng ghi nhận là 2.000 cây bị vội vã đốn hạ.

Báo chí do nhà nước quản lý đã tràn ngập tin bài về chiến dịch chặt 6.700 cây xanh ở Hà Nội. Các bản tin được báo chí đưa lên mạng ngày hôm nay 23/3 tường thuật về điều gọi là ‘Cận cảnh bãi tập kết khủng cây xanh bị chặt”. Theo Tuổi Trẻ Online và nhiều báo khác, khu tập kết cây vừa chặt nằm ở Cầu Diễn Quận Nam Từ Liêm. Các nhà báo nhìn thấy một khu vực chứa gỗ khổng lồ, kéo dài gần 500 mét cao từ 1 đến 3 mét đang tập kết hàng trăm gốc và cây cổ thụ, thân cây có đường kính rất lớn, trong đó chủ yếu là cây xà cừ.

Vụ Chính quyền Hà Nội mở chiến dịch chặt hạ 6.700 cây lâu năm trên các đường phố được báo chí quốc tế quan tâm tường thuật. Họ ghi nhận sự phản ứng giận dữ của người dân trên mạng xã hội, chiến dịch thu thập hàng chục ngàn chữ ký phản đối chiến dịch chặt cây, cũng như cuộc tuần hành với các khẩu hiệu bảo vệ cây xanh và môi trường diễn ra  vừa qua tại Hà Nội.

Diễn biến “chiến dịch” chặt hạ cây xanh ở thủ đô

11/6/2010

7e2d2d0b-6b22-4af7-aa62-ab01b55c200a

Chính phủ ban hành Nghị định 64/2010/NĐ-CP “Về quản lý cây xanh đô thị”. Điều 14 Nghị định này nêu rõ các trường hợp chặt hạ, dịch chuyển cây xanh đô thị phải có giấy phép là: Cây xanh thuộc danh mục bảo tồn; cây bóng mát trên đường phố; cây bóng mát; cây bảo tồn; cây đã được đánh số, treo biển trong công viên, vườn hoa, các khu vực công cộng và các khu vực thực hiện dự án đầu tư xây dựng công trình; cây bóng mát có chiều cao 10 mét trở lên; cây bảo tồn trong khuôn viên của các tổ chức, cá nhân.

Điều 14 cũng quy định chỉ các trường hợp sau đây mới được miễn giấy phép: chặt hạ ngay do tình thế khẩn cấp, do thiên tai hoặc do cây đã chết, đã đổ gãy. Trước khi chặt hạ, dịch chuyển, phải có biên bản, ảnh chụp hiện trạng.

01/11/2013

Sở Xây dựng Hà Nội có Tờ trình 8542/TTr-SXD gửi UBND TP Hà Nội về việc phê duyệt Đề án “cải tạo, thay thế cây xanh đô thị hai bên đường phố Hà Nội giai đoạn 2014-2015” (về sau có người gọi tắt là “Đề án 6700 cây xanh”).

Theo Đề án, tiến độ thực hiện “cải tạo, thay thế” cây sẽ là:

  • Năm 2014: 46 tuyến phố quận Ba Đình, 60 tuyến phố quận Hoàn Kiếm, 25 tuyến phố quận Hai Bà Trưng, 16 tuyến phố quận Đống Đa.
  • Năm 2015: 07 tuyến phố quận Tây Hồ, 05 tuyến phố quận Thanh Xuân, 16 tuyến phố quận Cầu Giấy, 09 tuyến phố quận Long Biên, 06 tuyến phố quận Hoàng Mai, 06 tuyến phố quận Hà Đông.

Kinh phí dự kiến cho dự án là 73,38 tỷ đồng. Tổng số cây bị chặt hạ, thay thế trên 190 tuyến phố là 6.708 cây.

11/11/2013

UBND TP Hà Nội ra Quyết định 6816/QĐ-UBND, phê duyệt Tờ trình và thông qua Đề án nêu trên của Sở Xây dựng.

25/01/2014

Sở Xây dựng Hà Nội có Tờ trình 718/TTr-SXD gửi UBND TP Hà Nội về việc phê duyệt “Quy hoạch hệ thống cây xanh, công viên, vườn hoa và hồ thành phố Hà Nội đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050”.

18/3/2014

UBND TP Hà Nội ra Quyết định 1495/QĐ-UBND thông qua Tờ trình nêu trên của Sở Xây dựng và Quy hoạch đi kèm.

20/8/2013

Sở Tài nguyên và Môi trường Hà Nội có Tờ trình số 4585/Ttr-STNMT-CCMT gửi UBND TP Hà Nội về việc phê duyệt Quy hoạch bảo tồn đa dạng sinh học TP Hà Nội đến năm 2030.

24/9/2014

UBND TP Hà Nội có Quyết định 4924/QĐ-UBND phê duyệt Tờ trình và Quy hoạch nói trên của Sở Tài nguyên và Môi trường.

04-05/11/2014

Hơn 500 cây xà cừ ở đường Nguyễn Trãi bị chặt hạ nhằm phục vụ dự án đường sắt trên cao Cát Linh – Hà Đông. Nhiều cây lớn, có đường kính từ 50 đến 80cm.

2015

14/01/2015

Sở Xây dựng Hà Nội đề nghị “thay thế cây xanh không đúng chủng loại cây xanh đô thị, không đảm bảo mỹ quan đô thị, các cây cong, nghiêng, xấu, sâu mục trên 5 tuyến phố: Tràng Thi, Lý Thường Kiệt, đường Thanh Niên, Phan Chu Trinh, Hai Bà Trưng, theo phương thức xã hội hóa”.

29/01/2015

150 cây xà cừ trên tuyến đường Nguyễn Trãi (Hà Nội) nối với Trần Phú (Hà Đông), có cây cao tới 30 mét, đường kính trên 50cm, bị chặt hạ cấp tập. Đơn vị trực tiếp triển khai là Công ty Cây xanh Hà Nội, theo đề nghị của Sở Xây dựng Hà Nội và được sự cho phép của thành phố. Lý do chặt là để lấy không gian an toàn cho tuyến đường sắt trên cao Cát Linh – Hà Đông.

fffd

30/01/2015

UBND TP Hà Nội ra văn bản số 695/UBND-XDGT chấp thuận đề nghị nêu trên (ngày 14/01) của Sở Xây dựng Hà Nội.

10/02/2015

Sở Xây dựng, trên tinh thần “thực hiện ý kiến chỉ đạo của UBND TP Hà Nội tại văn bản số 695/UBND-XDGT”, bắt đầu gửi văn bản đề nghị các cơ quan liên quan tiến hành “xã hội hóa thay thế cây xanh không đúng chủng loại cây xanh đô thị, không đảm bảo tiêu chuẩn”, trên 5 tuyến phố nêu trên. Sở đề nghị các cơ quan liên quan khẩn trương thực hiện, đảm bảo tiến độ “Xong trong tháng 3/2015”.

Chiến dịch chặt hạ cây xanh chính thức được lệnh bắt đầu. Việc chặt cây được tiến hành rải rác từ đầu tháng 3.

14/3/2015

Cây xanh trên đường Nguyễn Chí Thanh – nơi từng được bình chọn là “Con đường đẹp nhất Việt Nam” – bị chặt hạ.

16/3/2015

Nhà báo Trần Đăng Tuấn có thư ngỏ gửi Chủ tịch UBND TP Hà Nội Nguyễn Thế Thảo, kiến nghị tạm dừng chặt cây một thời gian để người dân kiểm tra.

17/3/2015

Trao đổi bên lề cuộc họp giao ban báo chí (cuộc họp vào thứ ba hàng tuần của ban Tuyên giáo với báo chí, nhằm “định hướng thông tin tuyên truyền”), Phó Ban Tuyên giáo Thành ủy Phan Đăng Long được hỏi về bức thư ngỏ của nhà báo Trần Đăng Tuấn. Ông Long đáp: “Ông Trần Đăng Tuấn cũng là một người dân, thành phố có cả kế hoạch tổng thể và rất nhiều ban ngành tham gia… Còn anh không đồng tình với chuyện đó thì anh cũng chỉ là một người dân thôi. Còn biết bao nhiêu người dân đồng tình thì sao”.

Phóng viên: “Tức là người dân chưa được hỏi ý kiến?”.

Phó Ban Tuyên giáo Phan Đăng Long: “Cái gì cũng phải hỏi ý kiến hay sao? Bây giờ chỉ có chuyện trồng cây mà phải hỏi ý kiến dân! Tôi hỏi, thế đất nước bây giờ động đến cái gì đi hỏi dân thì bầu ra chính quyền làm gì”. (VietNamNet, 17/3/2015. Nguồn ảnh: Khampha.vn)

18/3/2015

Liên quan tới bức thư ngỏ của nhà báo Trần Đăng Tuấn, người phát ngôn của UBND TP Hà Nội cho biết, Chủ tịch TP Nguyễn Thế Thảo đã yêu cầu Giám đốc Sở Xây dựng “chỉ đạo rà soát việc cải tạo, thay thế một số cây xanh trên địa bàn thành phố, đảm bảo theo đúng quy hoạch và yêu cầu quản lý, phát triển đô thị. Đồng thời, Sở Xây dựng có trách nhiệm phối hợp chặt chẽ với chính quyền các địa phương, các cơ quan báo chí, thông tin công khai, đầy đủ, tạo đồng thuận trong quá trình triển khai…”.

19/3/2015

Một số bạn trẻ là sinh viên các trường đại học ở Hà Nội đi dán slogan vận động bảo vệ cây và thắt ruy-băng xanh trên thân các cây xà cừ dọc đường Giảng Võ.

Ba luật sư Trần Vũ Hải, Nguyễn Hà Luân và Lê Văn Luân đồng ký tên trong một bức thư khẩn cấp gửi đến Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đề nghị dừng ngay việc chặt hạ cây xanh, xử lý nghiêm người tham mưu và làm trái pháp luật.

20/3/2015

Buổi sáng, một số người dân Hà Nội bắt đầu xuống đường phản đối việc chặt hạ cây xanh.

2h chiều, UBND TP Hà Nội tổ chức họp báo về Đề án 6700 cây xanh. Phóng viên đến dự và đưa ra hàng chục câu hỏi, thể hiện sự bức xúc và lo lắng của công luận về nạn chặt hạ cây xanh ồ ạt trong vài ngày. Tuy nhiên, Phó Chủ tịch UBND TP Nguyễn Quốc Hùng không trả lời câu hỏi nào.

Ông Nguyễn Quốc Hùng nói Đề án 6700 cây xanh là chủ trương đúng, chỉ có điều, “sự nôn nóng của các nhà tài trợ, thông tin thiếu minh bạch của các đơn vị triển khai khiến dư luận chưa đồng tình”.

Tất cả các phóng viên đều phải có thẻ nhà báo chính thức và giấy mời mới được vào họp, SONG lại có một cá nhân tự xưng là “người dân” cũng vào họp báo và đứng lên phát biểu ca ngợi chủ trương thay thế cây xanh của thành phố. Người này cũng nói rằng không nên đặt ra những vấn đề như các câu hỏi báo chí đã nêu.

21/3/2015

Đại diện Ngân hàng VPBank khẳng định VPBank chỉ tham gia tài trợ cho trồng cây xanh trên đường Nguyễn Chí Thanh chứ không tài trợ cho việc chặt cây. Đại diện của Vingroup cũng nói họ ủng hộ dự án này là do có sự kêu gọi của Hà Nội.

Nhiều bạn trẻ ở thủ đô bắt đầu tham gia dự án “Phủ vàng 6700 cây xanh”, bằng cách “thắt một dải ruy-băng vàng quanh mỗi thân cây”. Các ruy-băng được thắt đến đâu, dân phòng và công an đi theo gỡ và “tịch thu” đến đấy.

22/3/2015

Buổi sáng, nhiều người dân và một số tổ chức xã hội dân sự ở Hà Nội tổ chức sự kiện Tree Hugs tại hồ Thiền Quang. Mọi người tham dự chụp hình với cây, ca hát, giơ cao biểu ngữ và mặc áo T-shirt vận động ngừng chặt phá cây xanh, bảo vệ môi trường.

Chiều tối, một nhóm người dân đã đến đường Nguyễn Chí Thanh, nơi có những cây vừa bị chặt bỏ chỉ còn trơ hố đất, để làm lễ tế cây, với quan niệm rằng “cây cỏ cũng có hồn”, cần làm lễ tế để những vong hồn cây bị chặt sẽ được bình an và siêu thoát.

23/03/2015

Buổi tọa đàm chủ đề “Từ đề án 6700 cây xanh nhìn lại vấn đề quy hoạch Hà Nội” do MEC và PanNature tổ chức tại khách sạn Cầu Giấy đã bất ngờ bị cúp điện đúng giờ khai mạc. Tuy nhiên, buổi tọa đàm vẫn diễn ra sau đó, rất nhiều ý kiến được đưa ra. Một số ý kiến của các nhà khoa học khẳng định những cây mới được trồng thay thế trên đường Nguyễn Chí Thanh là cây mỡ, chứ không phải vàng tâm như phía chính quyền Hà Nội nói.

Thêm nữa, GS-TS. Phạm Ngọc Đăng, Phó Chủ tịch Hội Bảo vệ Thiên nhiên và Môi trường Việt Nam, khằng định: “Trong đề án đường sắt đô thị Cát Linh – Hà Đông không nói tới việc phải chặt hạ hàng cây xà cừ dọc hai bên đường Nguyễn Trãi”.

Ngoài ra, theo luật sư Trần Vũ Hải, việc chặt hạ 6700 cây xanh và chặt 500 cây xà cừ ở đường Nguyễn Trãi vi phạm Luật Thủ đô (ban hành năm 2012) và Nghị định 64/2010 của Chính phủ về quản lý cây xanh đô thị.

29/03/2015

Một cuộc tuần hành mang tên Green Walk (Hành trình xanh) diễn ra tại khu vực Hồ Gươm. Hàng trăm người đã đi bộ xung quanh bờ hồ, giương cao biểu ngữ phản đối chặt cây và yêu cầu minh bạch, công khai trong đề án “6700 cây xanh”.

02/04/2015

Nhóm các luật sư Trần Vũ Hải, Nguyễn Hà Luân, Trần Thu Nam và Lê Văn Luân gửi văn bản đến UBND TP Hà Nội và Sở Xây dựng TP yêu cầu giải trình về việc chặt hạ hàng xà cừ ở đường Nguyễn Trãi và việc chặt hạ cây trên đường Nguyễn Chí Thanh, thay bằng cây vàng tâm (hay cây mỡ?).

05/04/2015

Giữa vòng vây an ninh, cảnh sát, dân phòng, khoảng 50 người dân đã tổ chức một buổi đạp xe xung quanh Hồ Tây về Hồ Gươm để vận động bảo vệ môi trường, phản đối việc chặt hạ cây xanh ở thủ đô. Đoàn xe bị cản phá nhiều và buộc phải chia thành các nhóm nhỏ tập trung về điểm cuối ở Hồ Gươm, tại đây họ cũng bị dân phòng và an ninh thành phố gây sự, phá rối.

09/4/2015

Một nhóm gần 20 bạn trẻ – sinh viên một số trường đại học ở Hà Nội – đã đạp xe khoảng 10km vòng Hồ Gươm – Hồ Tây trong màu áo “Tôi yêu cây”, dưới trời Hà Nội mưa lạnh.

Đây là một phần trong các hoạt động thuộc phong trào “Hành trình vì màu xanh” của bạn trẻ ở thủ đô nhằm vận động cộng đồng nâng cao ý thức bảo vệ môi trường, giữ gìn cây xanh, yêu cầu chính quyền phải minh bạch và có trách nhiệm giải trình.
12/4/2015

Khoảng 200 người dân ở Hà Nội, thành phần chủ yếu là nhân viên văn phòng, công chức, sinh viên, học sinh, đã tuần hành quanh Bờ Hồ, hô vang khẩu hiệu yêu cầu dừng chặt cây, bảo vệ môi trường, chính quyền phải minh bạch và trả lời dân, v.v.

(Đoan Trang)

Xã hội dân sự và mạng lưới truyền thông

Top of Form

Xã hội dân sự và mạng lưới truyền thông

Tiếp tục luận bàn về xã hội dân sự xin giới thiệu với quý độc giả bài viết của tác giả Nguyễn Hưng Quốc về xã hội dân sự và mạng lưới truyền thông.

Nhìn xã hội dân sự như một tiến trình (theo Joseph Hannah) hoặc như một hành động (theo Jorg Wishermann) là một phát hiện đáng chú ý về phương diện học thuật: Một, chúng mở rộng nội hàm khái niệm xã hội dân sự vốn từ trước đến nay bị khống chế bởi kinh nghiệm từ các nước đã có nền dân chủ vững vàng (như ở Tây và Bắc Âu và Bắc Mỹ) hoặc đang trong tiến trình dân chủ hóa (như ở Đông và Trung Âu và Nam Mỹ); và hai, chúng giúp chúng ta hiểu rõ về quá trình vận động của xã hội dân chủ vốn mới manh nha ở Việt Nam cũng như ở nhiều quốc gia toàn trị khác ở châu Á và châu Phi. Tuy nhiên, có khi vì quá chú ý đến hành động và tiến trình, người ta lại trở thành lơ đễnh, từ đó, không nhận ra sự hình thành của xã hội dân sự với tư cách một thiết chế, hay nói theo chữ của Wishermann, theo “logic of domain”.

Một ví dụ tiêu biểu cho hiện tượng ấy là Hunter Marston. Trong bài “Mỏ bauxite ở cao nguyên Việt Nam: Một nơi để mở rộng xã hội dân sự?” (1), phân tích các vụ tranh cãi chung quanh quyết định để Trung Quốc đầu tư vào việc khai thác các mỏ bauxite ở Tây Nguyên của chính phủ Việt Nam, Marston nêu lên một số nhận xét thú vị: Thứ nhất, mặc dù quyết định khai thác bauxite ở Tây Nguyên đã được Nông Đức Mạnh ký kết vào tháng 12 năm 2001 và được Ban Chấp hành Trung ương đảng tán thành trong Đại hội lần thứ 10 vào tháng 4 năm 2006, nhưng làn sóng phản đối kế hoạch ấy chỉ thực sự bùng phát dữ dội từ tháng 1 năm 2009 khi bức thư phản đối của Võ Nguyên Giáp được công bố. Thứ hai, mặc dù các nỗ lực phản đối ấy đã thất bại khi các dự án khai thác bauxite vẫn tiếp tục được tiến hành, lực lượng phản đối vẫn thành công ở điểm: Họ xây dựng được một cái nền tảng chung cho các hoạt động khác trong tương lai. Thứ ba, lực lượng phản đối càng ngày càng đông đảo, thu hút được nhiều phần tử ưu tú trong hệ chính mạch (mainstream elite), những người đã hoặc đang có quan hệ chặt chẽ với nhà cầm quyền. Thứ tư, chính mối quan hệ với nhà cầm quyền ấy, cũng như sự bảo trợ của một tên tuổi lớn như Võ Nguyên Giáp, là lý do chính khiến việc phản đối có thể được kéo dài nhiều năm và những người phản đối được an toàn (trừ Cù Huy Hà Vũ, người đòi kiện Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng về quyết định khai thác bauxite).

Điều đáng tiếc nhất là Marston không hề nhắc đến trang web và blog mang tên Bauxite Việt Nam do Nguyễn Huệ Chi, Phạm Toàn và Nguyễn Thế Hùng khởi xướng. Đúng ra thì có. Có trong một câu: “Họ cũng tạo ra một trang web để thu hút sự chú ý đến vấn đề ấy.” Sau đó, trong phần chú thích, ghi địa chỉ trang web của Bauxite Việt Nam (2).

Theo tôi, trang web và blog Bauxite Việt Nam tồn tại không phải như một phương tiện chuyển tải thông tin thuần túy và một chiều, theo nghĩa truyền thống, mà còn là một diễn đàn như hai điều Ban chủ trương nêu lên ở trang nhà của họ: “1. Thông tin, trao đổi về vấn đề bauxite ở Việt Nam” và “2. Tiếng nói phản biện nhiều mặt của người trí thức”. Là diễn đàn, nó đồng thời cũng là một không gian, nơi tập hợp của đông đảo những người cùng chí hướng và quan điểm. Cái không gian ấy tồn tại lâu hơn hẳn các hành động phản đối dự án bauxite: Trong khi các hành động cụ thể đã chấm dứt từ mấy năm trước, cái không gian ấy vẫn còn và càng lúc càng sôi động. Nó cũng rất rộng rãi, không những chỉ bao gồm những người đã lên tiếng phản đối hay ký tên vào các bản kiến nghị mà còn cả các tác giả lẫn vô số độc giả ở khắp nơi. Không gian ấy không được nhà nước chấp nhận, nhưng nó vẫn hiện diện và gây tác động sâu sắc trong cộng đồng. Nó hoàn toàn vô vị lợi, phi chính phủ và mọi sự tham gia đều có tính chất tự nguyện. Theo cách nói “logic of domain” của Wishermann, trang mạng Bauxite Việt Nam là một “domain”. Nếu nó không phải là một xã hội dân sự thì là cái gì?

Hiện nay, chúng ta dễ dàng chấp nhận một cuốn sách điện tử là sách. Giống như sách in trên giấy. Chúng ta cũng chấp nhận báo điện tử là báo. Giống như báo in trên giấy. Tại sao một phong trào hiện hữu trên không gian mạng lại không thể được xem như một tổ chức và một thiết chế?

Bởi vậy, theo tôi, phong trào phản đối dự án bauxite sôi nổi ở Việt Nam từ đầu năm 2009 đến cuối năm 2010 là một hành-động-xã-hội-dân-sự; bản thân trang mạng Bauxite Việt Nam lại là một tổ-chức-xã-hội-dân-sự.

Thật ra, khuyết điểm của Hunter Marston cũng có thể tìm thấy trong bài viết “One-Party Rule and the Challenge of Civil Society in Vietnam” của Carlyle A. Thayer, một nhà nghiên cứu kỳ cựu, uyên bác và rất nổi tiếng trong ngành Việt Nam học tại Úc cũng như trên thế giới. Để chứng minh cho sự trỗi dậy của xã hội dân sự chính trị (political civil society) tại Việt Nam, Thayer tập trung vào một trường hợp đặc biệt: Khối 8406. Theo Thayer, đây là một tổ chức có sức phát triển rất nhanh và mạnh: thoạt đầu, vào ngày 8 tháng 4 năm 2006 (3), chỉ có 116 người ký tên vào bản Tuyên ngôn tự do dân chủ; chỉ một tháng sau, vào ngày 8/5, con số này nhảy vọt lên thành 424; đến cuối năm 2006, thành trên 2000 người. Thayer biết rất rõ là Khối 8406 sử dụng internet như một phương tiện chính để quảng bá bản tuyên ngôn, thu thập chữ ký và tổ chức các cuộc thảo luận về kế hoạch dân chủ hoá Việt Nam. Tuy nhiên, khi phân tích, ông chỉ tập trung vào Khối 8406 và quan hệ giữa Khối với đảng Việt Tân, từ đó, chứng minh sự tương tác giữa người Việt trong và ngoài nước. Với ông, dường như chỉ có Khối 8406 và đảng Việt Tân là thực; còn các trang web chỉ là một phương tiện, hơn nữa, lại là phương tiện ảo.

Tôi quan niệm ngược lại: Bất cứ trang web hay blog nào tập hợp được đông người, gây tiếng vang và có ảnh hưởng rộng rãi trong công luận, thể hiện được một tiếng nói chung về một số vấn đề liên quan chính sách của nhà nước hay tương lai của đất nước, đều có thể được xem như một tổ chức xã hội dân sự.

Trước đây, trong một bài viết về xã hội dân sự tại Việt Nam (4), Russell Hiang-Khng Heng có đặt vấn đề “Truyền thông như một diễn tố xã hội dân sự” (Media as civil society actor). Liên quan đến truyền thông Việt Nam, Heng ghi nhận một số sự kiện: Một, sự kiểm soát và kiểm duyệt ngặt nghèo của đảng và nhà nước ở mọi loại hình và mọi cấp. Hai, từ sau phong trào đổi mới, nhất là trong phong trào đấu tranh chống tiêu cực và chủ trương “nói thẳng, nói thật” do Đảng đề xướng, ranh giới giữa những điều có thể và không thể viết trên báo chí trở thành một vấn đề hết sức tế nhị. Ba, chính cái ranh giới mập mờ giữa cái có thể và cái không thể, cái được phép và cái không được phép ấy đã biến quan hệ giữa nhà nước và truyền thông trở thành một thứ quan hệ có tính chất tương tranh. Bốn, trong cuộc tương tranh ấy, một số tờ báo hoặc một số tổng biên tập đã xé rào và lấn tới. Heng nêu lên ba trường hợp tiêu biểu: Thứ nhất, vụ báo chí xúm vào tấn công Hà Trọng Hoà, một uỷ viên Trung ương đảng, về tội tham nhũng vào năm 1986 khiến về sau Hoà bị loại khỏi Trung ương. Thứ hai, vụ báo Văn Nghệ tích cực đổi mới và vạch trần các tệ nạn xã hội dưới thời Nguyên Ngọc làm Tổng biên tập. Và thứ ba, vụ báo Truyền Thống Kháng Chiến kêu gọi đẩy mạnh việc cải cách kinh tế và hệ thống chính trị tại Việt Nam năm 1990. Cuối cùng, Heng rút ra hai kết luận chính:

  1. Sau đổi mới, truyền thông dần dần trở nên một xã hội dân sự.
  2. Ở Việt Nam, xã hội dân sự có thể và trên thực tế, đang nổi lên từ bên trong nhà nước.

Có điều, bài viết này, cũng như hầu hết các bài viết khác về truyền thông tại Việt Nam, kể cả luận án tiến sĩ được đệ nạp tại trường Australian National University (5) của Russell Heng đều được hoàn tất vào cuối thập niên 1990 và đầu những năm 2000, lúc báo mạng chưa được phổ biến. Bởi vậy, thứ “truyền thông” ông đề cập chỉ là thứ truyền thông cũ.

Thật ra, nếu giới hạn truyền thông theo nghĩa cũ, chủ yếu tập trung vào sách và báo in trên giấy, nơi đáng gọi là xã hội dân sự thực sự ở Việt Nam chính là nhóm Mở Miệng và nhà xuất bản Giấy Vụn.

Xuất hiện từ đầu năm 2001, nhóm Mở Miệng thoạt đầu gồm bốn người: Lý Đợi, Bùi Chát, Khúc Duy và Nguyễn Quán; sau, hầu như chỉ còn hai người đầu là hoạt động tích cực. Ngoài chuyện sáng tác thơ, hai người còn làm một việc táo bạo chưa từng có dưới chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam là lập một nhà xuất bản riêng, mang tên Giấy Vụn (6). Cho đến đầu năm 2012, Giấy Vụn đã xuất bản khoảng 30 cuốn sách, từ thơ đến văn, từ sáng tác đến dịch thuật. Chỉ in dưới hình thức photocopy. Nhưng in rất đẹp. Và đầy tính chất chuyên nghiệp. Điều cần chú ý là, tuy Giấy Vụn không được giấy phép chính thức từ nhà nước nhưng nó lại hoạt động công khai và rất nổi tiếng, không những trong mà còn ở ngoài nước, không những trong cộng đồng Việt Nam mà còn cả trong cộng đồng quốc tế. Bùi Chát, người điều hành Giấy Vụn được mời tham dự nhiều cuộc hội nghị quốc tế: Một lần, vào năm 2008, tại Đại hội thứ 28 của Hiệp hội các Nhà xuất bản Quốc tế được tổ chức tại Seoul (7); lần thứ hai, vào năm 2010, dưới sự tài trợ của Bộ Ngoại giao Đức, Bùi Chát lại được Trung tâm văn học Literaturwerkstatt tại Berlin mời “giao lưu” với đồng nghiệp quốc tế cũng như với độc giả tại Đức (8). Lần nào cũng với tư cách một người hoạt động xuất bản độc lập. Tư cách ấy lại được khẳng định một cách chính thức và đầy trân trọng khi Bùi Chát được Hiệp hội các Nhà xuất bản Quốc tế (The International Publishers Association, viết tắt là IPA) chọn để trao giải Tự Do Xuất bản năm 2011 (9).

Có thể nói, trong thập niên đầu tiên của thế kỷ 21, với tư cách một tập thể, nhóm Mở Miệng và nhà xuất bản Giấy Vụn là một trong vài hiện tượng độc đáo và nổi bật nhất trong sinh hoạt văn học tại Việt Nam. Đã có nhiều người viết về họ từ góc độ này (10). Ở đây, tôi chỉ xin nhấn mạnh ở một góc độ khác: Đó cũng là một hình thức xã hội dân sự đúng nghĩa đầu tiên tại Việt Nam, ít nhất là trong lãnh vực truyền thông và văn học nghệ thuật. Đó là một tổ chức công khai, tự nguyện, phi lợi nhuận, hoàn toàn độc lập với nhà nước, có ảnh hưởng sâu và rộng, ít nhất trong giới văn nghệ, và đặc biệt, có một thái độ rõ ràng và dứt khoát đối với nhà nước. Thái độ về mỹ học: Chống lại lối thơ sáo mòn về cả ngôn ngữ lẫn ý tưởng vốn được xem là “chính thống” tại Việt Nam. Về xã hội: Chọn vị trí của những “kẻ đứng bên lề” (11). Về chính trị, nói như chính Lý Đợi, trong bài trả lời phỏng vấn do Nhã Thuyên thực hiện:

“Lý do chính của việc thành lập Mở Miệng, ban đầu, là phản ứng lại vấn đề kiểm duyệt và cấp phép xuất bản – vốn đang trị vì một cách bảo thủ, quan liêu. Sau đó, thì muốn bình thường hóa

việc tự do ngôn luận, tự do sáng tác và xuất bản.” (12)

Mấy năm sau khi nhóm Mở Miệng ra đời, internet càng ngày càng phát triển và phổ cập, các trí thức và giới văn nghệ sĩ chuyển hướng hoạt động, từ giấy in, họ bước vào không gian ảo với các website và blog. Hiện nay, số lượng các website và blog, đặc biệt blog, có tính độc lập rất nhiều. Tôi chỉ ghi lại một số blog hay bàn về chuyện chính trị, xã hội và được nhắc nhở nhiều nhất:

Nguyễn Tường Thụy: https://nguyentuongthuy2012.wordpress.com/
Người Buôn Gió: http://nguoibuongio1972.multiply.com/
Huỳnh Ngọc Chênh: http://huynhngocchenh.blogspot.com/
Trương Duy Nhất: http://www.truongduynhat.net/
Bùi Văn Bồng: http://bvbong.blogspot.com/
Đoan Trang: http://trangridiculous.blogspot.com/
Thùy Linh: http://www.buudoan.com/
Phạm Viết Đào: http://phamvietdao3.blogspot.com/
Nguyễn Xuân Diện: http://xuandienhannom.blogspot.com/
Nguyễn Quang Lập: http://quechoa.vn/
Anh Ba Sàm: http://anhbasam.wordpress.com/
Dân Làm Báo: http://danlambaovn.blogspot.com/
Quan Làm Báo: http://quanlambao.blogspot.com/
Bauxite Việt Nam: http://boxitvn.blogspot.com/

Các blog trên có một số đặc điểm đáng chú ý:

Thứ nhất, trừ Dân Làm Báo và Quan Làm Báo, phần lớn đều không đặt vấn đề chống chế độ. Chống, chủ yếu là họ chống tham nhũng và một số chính sách hoặc một số cá nhân nào đó. Ước muốn của họ là có một chính phủ trong sạch, dân chủ, làm việc có hiệu quả, cho phép tự do, ít nhất là tự do thông tin, và đặc biệt, khôn ngoan và biết tự trọng trong quan hệ với Trung Quốc.

Thứ hai, phần lớn các blog ấy, tuy trên danh nghĩa là blog cá nhân, nhưng trên thực tế, người ta thường đăng lại bài viết của nhau. Riêng Dân Làm Báo, Bauxite Việt Nam, và đặc biệt, Anh Ba Sàm thì có số lượng bài vở rất phong phú, được trích từ, hoặc nối kết với, nhiều nguồn khác nhau. Điều đó làm cho các blog trở thành một thứ báo, một nguồn thông tin và đồng thời, một diễn đàn có tính chất tập thể.

Tính tập thể ấy cho phép chúng ta hình dung ra một thứ cộng đồng mạng, nơi gặp gỡ của những người thường xuyên đau đáu về tình hình của xã hội và đất nước. Trong quan niệm của tôi, bản thân cộng đồng mạng ấy là một tổ chức xã hội dân sự. Tổ chức ấy có tính khả xúc (palpability): ai cũng có thể thấy được, đọc được, tiếp xúc được. Tính khả xúc ấy lại làm không gian mạng trở thành một thứ không gian thật, có thể nhìn theo logic vùng miền (logic of domain), để có thể được xem như một thiết chế. Nó thật không phải trong hoạt động mà còn cả trong tác động. Một số blog đã trở thành một sự đe dọa đối với chính quyền, hoặc ít nhất, một số thành phần trong chính quyền. Đó là lý do tại sao trong năm 2012, nhiều nhà lãnh đạo thuộc loại cao nhất nước, từ Chủ tịch nước Trương Tấn Sang (13) đến Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng (14) và Bí thư Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh Lê Thanh Hải, (15) đều lên tiếng kết tội các blog ấy (đặc biệt Quan Làm BáoDân Làm Báo). Nếu xem các blog như một đối trọng của hệ thống truyền thông thuộc lề phải do nhà nước quản lý gồm gần 800 tờ báo các loại, trong đó có gần 200 tờ báo ngày và báo tuần, 63 tờ báo trung ương và 97 tờ báo địa phương, gần 70 đài phát thanh (16), chúng ta sẽ thấy ngay một tình thế oái oăm: chiến thắng dường như thuộc về số các blog ít ỏi kia. Chính giới lãnh đạo đã thừa nhận chiến thắng ấy khi kết tội chúng gây hoang mang trong dư luận, ảnh hưởng đến tư tưởng chính trị của nhiều người, kể cả đảng viên và cán bộ, do đó, đã huy động một lực lượng cực kỳ hùng hậu, bao gồm từ Bộ Công an đến Bộ Thông tin và Truyền thông, báo Nhân Dân, Thông tấn xã Việt Nam, Đài Truyền hình Việt Nam, Đài Tiếng nói Việt Nam, Cổng thông tin điện tử chính phủ và các cơ quan thông tin đại chúng… chống trả như đã ghi trong công văn số 7169 của chính phủ (17).

Trong tương quan như vậy, việc xem một số tờ báo in, trong một thời điểm nào đó, là xã hội dân sự, nhưng lại phủ nhận tính chất xã hội dân sự của các tờ báo mạng, theo tôi, là điều hoàn toàn vô lý.

Nếu, từ thực tế ở Việt Nam cũng như ở các quốc gia toàn trị khác ở châu Á và châu Phi, người ta đành phải thay đổi bản chất của khái niệm xã hội dân sự, từ một thiết chế đến một tiến trình và một hành động, từ tự trị đến tương đối tự trị, thậm chí, nảy sinh từ bên trong nhà nước, theo tôi, người ta cần bước thêm hai bước nữa: một, mở rộng khái niệm “thiết chế” từ thế giới thực đến thế giới ảo; và hai, chấp nhận cả các hiện tượng không được nhà nước chính thức công nhận.

Không chấp nhận điểm thứ nhất, chúng ta thành những kẻ lạc hậu trước những thay đổi triệt để và lớn lao trong truyền thông, và từ đó, trong xã hội. Không chấp nhận điểm thứ hai, chỉ nhìn vào các cơ quan được nhà nước cấp giấy phép, chúng ta sẽ không bao giờ thấy được diện mạo xã hội dân sự thực sự.

***
Chú thích:

  1. Hunter Marston, “Bauxite Miningin Vietnam’s Central Highlands: An Arena for Expanding Civil Society?”, Contemporary Southeast Asia số 34 (2012).
  2. Hunter Marston, “Bauxite Mining in Vietnam’s Central Highlands: An Arena for Expanding Civil Society?”, Contemporary Southeast Asia số 34 (2012), tr. 184.
  3. Tên khối 8406 chính là ngày tháng năm sinh của tổ chức này.
  4. Russell Hiang-Khng Heng, “Civil Society Effectiveness and the Vietnamese State – Despite or Because of the Lack of Autonomy”, in trong cuốn Civil Society in Southeast Asia do Lee Hock Guan biên tập (2004), sđd., tr. 144-166.
  5. Luận án của Ruseell Hiang-Khng Heng có nhan đề là “Of the State, For the State, Yet against the State – The Struggle Paradigm in Vietnam’s Media Politics” (1999).
  6. Trước nhà xuất bản Giấy Vụn, nhà thơ Nguyễn Quốc Chánh (ở Sài Gòn) cũng đã tự in tác phẩm của mình dưới hình thức photocopy kèm theo một “lời nói đầu”, trong đó, ông tuyên bố thái độ từ chối kiểm duyệt của ông. (Xem bài “Nguyễn Quốc Chánh, nhà thơ từ chối kiểm duyệt” của Nguyễn Hưng Quốc, trên VOA: http://www.voatiengviet.com/content/nguyen-huu-chanh-02032010-83458717/845336.html). Tuy nhiên, Nguyễn Quốc Chánh lại không lập nhà xuất bản, và cũng không in gì khác ngoài thơ của ông.
  7. Xem bản tin trên Tiền Vệ: http://tienve.org/home/activities/viewActivities.do?action=viewnews&newsId=144
  8. Xem bài phỏng vấn Bùi Chát do Song Chi thực hiện trên Diễn Đàn Thế Kỷ: http://www.diendantheky.net/2011/01/nha-tho-bui-chat-tuong-lai-cua-cac-nen.html
  9. Xem bài viết “Nhà xuất bản Giấy Vụn được trao giải Tự do Xuất bản quốc tế” của Trùng Dương trên http://www.voatiengviet.com/content/nha-xuat-ban-giay-vun-04-28-2011-120879739/916937.html
  10. Ví dụ ba bài viết “Vài nhận định về nhóm Mở Miệng” và “Tản mạn đôi chút với bài thơ ‘Vô địch’ của Bùi Chát” của Như Huy (http://huybeo.blogspot.com.au/2011/04/nhu-huy-hai-bai-viet-au-tien-ve-mo.html); bài “Cuộc nổi dậy của rác thải” của Nhã Thuyên (http://damau.org/archives/26332), đặc biệt bài “‘Ta, một công dân ô nhục bậc nhất, một thánh nhân nát rượu…’ — Thơ và Lề trong xã hội Việt Nam đương đại” của Đoàn Cầm Thi trên Tiền Vệ (http://www.tienve.org/home/literature/viewLiterature.do?action=viewArtwork&artworkId=5898).
  11. Xin xem thêm một bài viết khác của tôi về Bùi Chát và nhà xuất bản Giấy Vụn trên http://www.voatiengviet.com/content/nha-xuat-ban-giay-vun-04-30-2011-121019644/901771.html
  12. Xem trên http://damau.org/archives/20163
  1. Xem bài “Mãi mãi là sao sáng dẫn đường” của Trương Tấn Sang trên http://tuoitre.vn/Chinh-tri-Xa-hoi/524848/Mai-mai-la-sao-sang-dan-duong.html
  1. http://www.voatiengviet.com/content/thu-tuong-vietnam-ra-lenh-nghiem-tri-cac-blog-chi-trich-dang-va-nha-nuoc/1507259.html
  1. http://vietnamnet.vn/vn/chinh-tri/101469/-phai-de-khang-cac-trang-mang-noi-xau-can-bo-.html
  1. http://seca.net.vn/NewsDetail.aspx?cat=3&id=16526
  1. http://vanban.chinhphu.vn/portal/page/portal/chinhphu/hethongvanban?class_id=2&mode=detail&document_id=163586

* Blog của Tiến sĩ Nguyễn Hưng Quốc là blog cá nhân. Các bài viết trên blog được đăng tải với sự đồng ý của Ðài VOA nhưng không phản ánh quan điểm hay lập trường của Chính phủ Hoa Kỳ.Bottom of Form

xã hội dân sự là gì ?

Thế giớiXã hội dân sự và dân chủ

Hầu như mọi người đều đồng ý: dân chủ là một thể chế tốt nhất trong lịch sử, ít nhất cho đến lúc này. Tốt về phương diện đạo đức: Nó tôn trọng những giá trị căn bản và phổ quát của nhân loại, trong đó, quan trọng nhất là sự tự do, bình đẳng và nhân quyền. Tốt về phương diện kinh tế: Dân chủ phát huy sáng kiến và năng lực của mọi người vốn là những yếu tố cần thiết cho sự phát triển và ổn định. Và tốt về phương diện chính trị, cả về đối nội lẫn đối ngoại: được xây dựng trên nền tảng pháp quyền vững chắc, các quốc gia dân chủ vừa tránh được các cuộc bạo loạn trong nội bộ vừa tránh được các xung đột vũ trang giữa họ với nhau.

Ngay cả những nhà độc tài hiện nay dường như cũng không phản đối những điều vừa kể. Họ cũng nói đến dân chủ, cũng tự cho chế độ họ là dân chủ, dù là một kiểu dân chủ… khác. Ở các nước xã hội chủ nghĩa, trước đây, họ vừa tuyên dương dân chủ vừa chủ trương chuyên chính vô sản; sau, tất cả đều đồng loạt từ bỏ khái niệm “chuyên chính” và chỉ nói đến dân chủ, dù là dân chủ…xã hội chủ nghĩa.

Ai cũng đồng ý với nhau như vậy. Tuy nhiên lại có một nghịch lý: trên thế giới, quá trình dân chủ hóa lại rất chậm chạp và đầy khúc khuỷu.

Năm 1991, trong cuốn The Third Wave: Democratization in the Late Twentieth Century, Samuel P. Hungtington chia làn sóng dân chủ thành ba đợt: Đợt thứ nhất, mở đầu bằng cuộc cách mạng ở Mỹ vào năm 1776 và sau đó, cuộc cách mạng ở Pháp năm 1789, dẫn đến việc hình thành của gần 30 nền dân chủ. Đợt thứ hai diễn ra ngay sau chiến tranh thế giới lần thứ hai: Ở đỉnh cao của nó, đầu thập niên 1960, có cả thảy 36 quốc gia được xem là dân chủ. Đợt thứ ba bắt đầu từ năm 1974, thoạt đầu, ở Bồ Đào Nha, sau, lan ra nhiều quốc gia khác vùng châu Mỹ La Tinh, sau nữa, châu Á (Philippines, Hàn Quốc và Đài Loan), và cuối cùng, vào cuối thập niên 1980, các nước Đông Âu với sự sụp đổ toàn diện của chủ nghĩa Cộng sản. Gần đây, một số nhà nghiên cứu nói đến đợt dân chủ hóa lần thứ tư bắt đầu với các cuộc cách mạng ở Trung Đông, lật đổ các chính quyền độc tài ở Tunisia, Ai Cập, Yemen, Libya, v.v..

Điều cần chú ý là: bên cạnh các đợt dân chủ hóa ấy, người ta còn ghi nhận những đợt thoái trào của dân chủ. Đầu thế kỷ 20, có lúc trên thế giới có đến 29 quốc gia được xem là dân chủ, thế nhưng, từ đầu thập niên 1920 đến đầu thập niên 1940, với sự bành trướng của chủ nghĩa phát xít, số lượng các nước dân chủ bị tuột xuống nhanh chóng, có lúc, chỉ còn khoảng 12. Trong đợt dân chủ hóa lần thứ hai cũng vậy. Ở cao điểm của nó, có 36 nước dân chủ; lúc thoái trào, từ đầu thập niên 1960 đến giữa thập niên 1970, chỉ còn 30. Rồi đợt thứ ba cũng có thoái trào: Ngay chính Nga, sau sự sụp đổ của chủ nghĩa Cộng sản, dưới thời Vladimir Putin, lại trở thành độc tài. Và ở làn sóng dân chủ thứ tư, tuy chưa hẳn đã chấm dứt, sự thoái trào đã thấy rõ trong tình trạng bất ổn định ở Ai Cập và Libya.

Những làn sóng dân chủ làm giới quan sát vui mừng và phấn khởi bao nhiêu, những cuộc thoái trào càng làm cho họ hoang mang và lo lắng bấy nhiêu. Người ta thấy rõ: Con đường đến với dân chủ là một con đường hết sức gập ghềnh và đầy bất trắc. Chính vì thế, một câu hỏi được nhiều người đặt ra là: Làm thế nào để xây dựng dân chủ?

Nói đến việc xây dựng một chế độ dân chủ nói chung hay ở Việt Nam nói riêng, người ta hay nghĩ ngay đến một khía cạnh: bộ máy chính quyền; và một điều kiện: những người lãnh đạo trong bộ máy ấy phải được dân bầu một cách tự do và minh bạch.

Tuy nhiên thiết chế và bầu cử chỉ là hai khía cạnh của dân chủ, thậm chí, chỉ là hai khía cạnh ở mặt nổi. Tự bản thân chúng, cả hai khía cạnh ấy đều không bảo đảm được dân chủ. Thiết chế chỉ là phương tiện, với nó, người ta có thể nhắm đến những mục đích khác nhau, có những cách hành xử khác nhau, có khi hoàn toàn đi ngược lại dân chủ, hơn nữa, chà đạp lên dân chủ. Bầu cử cũng vậy. Không hiếm chính phủ được ra đời như kết quả của một cuộc bầu cử tự do, cuối cùng, kết thúc như một chế độ độc tài vô cùng tàn bạo. Hitler là một ví dụ. Ở Việt Nam, chính phủ đầu tiên của ông Hồ Chí Minh năm 1946 cũng là kết quả của một cuộc bầu cử.

Thiết chế và bầu cử chỉ có thể song hành với dân chủ với điều kiện đầu tiên là chúng phải được xây dựng trên nền tảng, và được vận hành trên nguyên tắc, của một nền pháp quyền (rule of law) vững chắc. Pháp quyền đặt ra những giới hạn để bảo đảm thiết chế không bị lợi dụng và bầu cử không bị biến dạng, để người cầm quyền bị kiểm soát và do đó, biết tự kiềm chế, và để những người bị trị tiếp tục tin tưởng vào hệ thống, từ đó, tin tưởng lẫn nhau.

Nói như vậy cũng là nói, pháp quyền, thật ra, tự nó chưa đủ bảo đảm cho dân chủ. Pháp quyền chỉ là nguyên tắc và cái gọi là “pháp” (law) trong pháp quyền cũng chỉ là một văn kiện và chữ nghĩa, những thứ có thể được diễn dịch và ứng dụng theo nhiều cách khác nhau. Tuỳ nơi. Tuỳ người. Bởi vậy, cũng có thể nói, yếu tố quyết định trong việc xây dựng dân chủ chính là con người.

Nhưng không phải người nào cũng muốn và cũng có khả năng xây dựng dân chủ. Rõ ràng là có rất nhiều người không hề muốn có dân chủ: những nhà độc tài và những người ăn theo các nhà độc tài. Độc tài thì chỉ có một người hoặc một nhóm người, nhưng đám ăn theo độc tài thì có thể rất đông: Đó có thể là một giai cấp (ví dụ giai cấp quý tộc ngày xưa) hay một đảng (ví dụ đảng Nazi, phát xít hay Cộng sản). Những người không có khả năng xây dựng dân chủ thì lại càng nhiều: Đó là những kẻ có căn tính nô lệ hoặc vô cảm, hoàn toàn hờ hững với mọi chuyện, kể cả thân phận cũng như cuộc sống của mình và của cả cộng đồng.

Trong cuốn The Rise of Global Civil Society: Building Communities and Nations from the Bottom Up (Encounter Books, 2008), Don Eberly lặp đi lặp lại một câu nói mà tôi rất tâm đắc: “Dân chủ được làm cho những người dân chủ” (Democracy is made for democrats). Trong hai chục năm vừa qua, Mỹ đã bỏ công, bỏ tiền và bỏ cả xương máu với ý định mang dân chủ đến tặng cho Afghanistan và Iraq, nhưng ở cả hai nơi, sau các cuộc bầu cử khá tự do, dân chủ vẫn không, hoặc ít nhất, chưa bén rễ được.  Tại sao? Tại ở những nơi đó vẫn chưa có những người có văn hoá dân chủ.

Văn hoá dân chủ là văn hoá của các công dân (civic culture), của những người sống và hành xử như những công dân. Một cá nhân có thể là một cái gì độc lập, nhưng một công dân, tự bản chất, bao giờ cũng là một thành viên của một cộng đồng, chủ yếu là của một đất nước. Trong ý niệm công dân, do đó, đã có sẵn hai ý niệm khác: sự liên đới và trách nhiệm. Biểu hiện của hai ý niệm ấy là sự quan tâm đối với cái chung và hơn nữa, sự tham gia vào những vấn đề chung.

Xin lưu ý: công dân là một hiện tượng lịch sử khá mới. Xưa, chỉ có thần dân. Khái niệm công dân chỉ ra đời từ thời hiện đại. Có điều, trong thời hiện đại, không phải ở đâu người ta cũng tìm cách nuôi dưỡng hoặc phát triển những phẩm chất vốn gắn liền với ý niệm công dân. Chủ nghĩa thực dân bao giờ cũng tìm cách chia rẽ dân chúng các nước thuộc địa để họ không còn nghĩ đến cái chung; hoặc nếu nghĩ, chỉ thấy những cái chung ấy đều là những thứ đáng bị chối bỏ: chúng là di sản của tình trạng mọi rợ hoặc bán khai. Các chế độ độc tài theo thần quyền cũng phủ nhận tư cách công dân, và thay vào đó, họ chỉ vun bồi một nền văn hoá sùng kính và tuân phục, ở đó, chỉ có, trên cao, các sứ giả và dưới thấp là các tín đồ. Dưới các chế độ độc tài xã hội chủ nghĩa cũng vậy, một mặt, với nguyên tắc “dân chủ tập trung”, người ta thâu tóm hết quyền hành vào tay một số người và đẩy tất cả những người còn lại vào thế ngoại cuộc; mặt khác, với chủ trương thần thánh hoá lãnh tụ, người ta biến cái “dân chủ tập trung” ấy thành một thứ siêu quyền lực, khống chế toàn bộ guồng máy lãnh đạo, và mọi công dân biến thành “thần dân” chỉ biết cúi đầu vâng dạ như xưa.

Trong văn hoá dân chủ, ngược lại, công dân luôn luôn cảm thấy mình là một thành viên của cả cộng đồng, mình chia sẻ trách nhiệm với cộng đồng, và mình có quyền để thực hiện những điều được chia sẻ ấy. Ý thức dân chủ, trước hết, là ý thức về quyền; nhưng một ý thức về quyền đúng đắn và thực sự dân chủ bao giờ cũng gồm hai mặt: quyền của mình và quyền của người khác. Đối diện với hai loại quyền ấy, người ta vừa biết tranh đấu lại vừa biết đối thoại, thương thảo, nhân nhượng và thoả hiệp.

Một kiểu văn hoá dân chủ như thế không phải tự nhiên mà có.  Hai bài học lớn nhất Mỹ rút ra được sau khi lật đổ chính quyền Sadam Hussein ở Iraq là: Một, trong công cuộc xây dựng dân chủ cho một nước, việc thay đổi guồng máy cai trị chỉ là phần nhỏ; và hai, người ta không thể đem dân chủ từ nước này sang “trồng” vào một nước khác: Dân chủ chỉ có thể nảy nở từ bên trong.

Từ sau chiến tranh thế giới lần thứ hai, Mỹ luôn luôn có tham vọng gieo rắc dân chủ khắp nơi trên thế giới vì họ tin đó là lý tưởng lớn và chính đáng nhất, hơn nữa, đó cũng là phương cách tốt nhất để bảo vệ hoà bình trên thế giới. Tuy nhiên, Mỹ chỉ thành công được ở hai nơi: Nhật và Đức. Ở những nơi khác, họ đều thất bại. Vì không hợp… thổ nhưỡng.

Cái gọi là “thổ nhưỡng” ấy chính là văn hoá. Để xây dựng dân chủ, như vậy, trước hết, là xây dựng văn hoá dân chủ.

Văn hoá dân chủ được xây dựng bằng cách nào? Một trong những cách chính được ghi nhận trong suốt mấy chục năm nay là: xây dựng xã hội dân sự (civil society).

Nhận định về cuộc Cách mạng Hoa hồng tại Georgia, Tổng thống Mikheil Saakashvili cho đó là đóng góp của xã hội dân sự tại nước ông. Sự thành công của Nam Phi trong việc chuyển tiếp từ chế độ phân biệt chủng tộc sang một chế độ dân chủ cũng được xem là một thành tích của xã hội dân sự. Fareed Zakaria đề nghị chính phủ Mỹ, khi hoạch định chính sách ngoại giao, nên xem việc thay đổi chính phủ như là phó sản (byproduct) của xã hội dân sự. Liên Hiệp Quốc xem xã hội dân sự đóng vai trò trung tâm trong việc xây dựng dân chủ. (1)

Dĩ nhiên, tự nó, xã hội dân sự, dù phổ biến và mạnh mẽ đến mấy, cũng không thể làm lật đổ được một chế độ độc tài. Nhưng không có xã hội dân sự, không có một nền dân chủ nào có thể được xây dựng và vững mạnh cả.

***
Chú thích:

1. Các chi tiết nêu trong đoạn này được trích từ Don Eberly (2008), The Rise of Global Civil Society: Building Communities and Nations from the Bottom Up, New York: Encounter Books, tr. 234-7.

* Blog của Tiến sĩ Nguyễn Hưng Quốc là blog cá nhân. Các bài viết trên blog được đăng tải với sự đồng ý của Ðài VOA nhưng không phản ánh quan điểm hay lập trường của Chính phủ Hoa Kỳ.

Nguyễn Hưng Quốc

Nhà phê bình văn học, nguyên chủ bút tạp chí Việt (1998-2001) và đồng chủ bút tờ báo mạng Tiền Vệ (http://tienve.org). Hiện là chủ nhiệm Ban Việt Học tại trường Đại Học Victoria, Úc. Đã xuất bản trên mười cuốn sách về văn học Việt Nam.
Bottom of Form

NHÂN QUYỀN THEO KIỂU VIỆT NAM

Thanh Quang, phóng viên RFA

Nhiều blogger bị an ninh thường phục ngang nhiên đánh hội đồng khi đến công viên Thống Nhất tham dự hoạt động chào mừng ngày Quốc tế Nhân Quyền, ngày 8/12/2013. Nguồn danlambao

Nhiều blogger bị an ninh thường phục ngang nhiên đánh hội đồng khi đến công viên Thống Nhất tham dự hoạt động chào mừng ngày Quốc tế Nhân Quyền, ngày 8/12/2013.
Nguồn danlambao

Hồi tháng 11 vừa rồi VN được ghế trong Hội Đồng Nhân Quyền LHQ, khiến quan chức VN rầm rộ “phấn khởi”, chẳng hạn như Thiếu tướng Công an Bùi Quảng Bạ tự hào rằng “Nhìn lại những năm qua, trên lĩnh vực nhân quyền, Việt Nam đã đạt được những thành tựu hết sức quan trọng…Cộng đồng quốc tế đánh giá cao những thành tự này vì thế đã dành cho Việt Nam số phiếu ủng hộ cao nhất…”; Chủ nhiệm Ủy ban Đối ngọai Quốc hội Trần Văn Hằng cho rằng “Việt Nam trở thành thành viên Hội đồng Nhân quyền sẽ là câu trả lời đích đáng đối với các thế lực lâu nay cố tình bôi nhọ, vu cáo chúng ta”; Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng nói là “Quyền con người…đưa lên vị trí trang trọng hàng đầu trong Hiến pháp.”; Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng khoe rằng VN “Bảo đảm quyền con người, quyền tự do, dân chủ”; Chủ tịch nước Trương Tấn Sang quả quyết “bảo vệ  quyền con người”; Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng cũng không quên quảng bá quyền con người là một trong những “nội dung quan trọng” trong Hiến pháp sửa đổi vừa được thông qua…

Cái mùi của chế độ

Nhưng chỉ tháng sau – tức tháng 12 này, VN – nói theo lời blog Dân Luận, “…tùy tiện chà đạp quyền con người trong Ngày Quốc Tế Nhân Quyền”. Blogger Hòang Dũng báo động rằng các hoạt động của những người yêu nước cổ súy cho nhân quyền đã bị nhà cầm quyền dùng cán bộ Thành đòan, côn đồ, an ninh chìm, phụ nữ, mắm tôm, bạo lực…hành hung; “các bọc mắm tôm liên tiếp được ném vào đòan người (yêu nước)”, “Có người buột miệng: Đúng là cái mùi của chế độ”…

Trong thời điểm kỷ niệm Ngày Quốc Tế Nhân Quyền ấy, khi từ Saigòn, Nha Trang, Đà Nẵng, Vinh cho tới Hà Nội, những Continue reading

BIỂN ĐÔNG và NHÂN QUYỀN: Yếu tố căn bản trong quan hệ Việt-Mỹ

Nguồn: RFI – Trọng Nghĩa

Cuộc hội kiến giữa Ngoại trưởng Mỹ John Kerry (T) với Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng tại Hà Nội ngày 16/12/2012 REUTERS/Brian Snyder

Cuộc hội kiến giữa Ngoại trưởng Mỹ John Kerry (T) với Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng tại Hà Nội ngày 16/12/2012 REUTERS/Brian Snyder

K t ngày 14/12/2013 va qua, sau nhiu ln b đình hoãn, Ngoi trưởng Hoa K John Kerry rt cuc đã chính thc đi thăm Vit Nam t ngày ông nhm chc, trong khuôn kh vòng công du Đông Nam Á cũng s đưa ông qua Philippines. Theo gii phân tích, đây là mt chuyến thăm rt được Hà Ni và Manila mong đi, trong bi cnh ch quyn bin đo ca c hai đu b Trung Quc ln lướt ti Bin Đông, và cn đến s hin din ca M đ hn chế tham vng bành trướng ngày càng rõ ca Bc Kinh.

Tại Việt Nam, lãnh đạo ngành ngoại giao Mỹ đã không phụ lòng mong đợi của nước chủ nhà khi loan báo quyết định tăng cường giúp đỡ Việt Nam trong lãnh vực an ninh trên biển – một hình thức gián tiếp hỗ trợ Việt Nam bảo vệ tốt hơn vùng Biển Đông của mình. Tuy nhiên, ông John Kerry cũng không quên nhắc lại một trong những mối quan tâm lớn của Washington trong quan hệ với Hà Nội. Đó là Việt Nam cần cải thiện nhiều hơn nữa tình hình nhân quyền.

Nhận xét chung về vòng công du của Ngoại trưởng Mỹ qua Việt Nam và Philippines lần này, các nhà phân tích đều nhấn mạnh đến khía cạnh « bù đắp » thiếu sót của Hoa Kỳ cách nay không lâu, khi chính Tổng thống Mỹ Barack Obama đã phải bỏ lỡ hai Hội nghị Thượng đỉnh quan trọng của khu vực là Hội nghị Thượng đỉnh APEC tại Indonesia, cũng như Hội nghị Thượng đỉnh Đông Á tại Brunei. Lợi dụng sự vắng mặt của lãnh đạo Mỹ, Trung Quốc được cho là đã « mặc sức tung hoành » và biểu thị uy lực của mình.

Continue reading

The speech of BFD on Human Rights Day

There were the political officers from US, Australian, German, Swedish Embassy attended this meeting

There were the political officers from US, Australian, German, Swedish Embassy attended this meeting

Greetings to our respected guests, colleagues and fellow activists,

First of all, please let me on behalf of the Democracy Brotherhood (AEDC) thank you for being here with us, you who represent the international diplomatic corps in Hanoi, my colleagues from other associations like No U FC, Hoang Sa FC, Vietnam Blogger Network and my fellow activists in the Democracy Brotherhood (AEDC).
Today, we are gathered here to celebrate the International Human Rights Day.
December 10 every year and in every country the International Human Rights Day celebrates the United Nation’s Human Rights Charter Declaration.
On this day in 1948, Mrs Eleanor Roosevelt, the First Lady of the United States represented the United Nations to read out the historical declaration of the Human Rights Charter in Paris, France.
Then on December 4, 1950 on the 317th general assembly, the United Nations officially adopted December 10 as the yearly Human Rights Day.
The basic rights of human beings are to be valued and respected all over the world, as it has been stipulated in the Declaration of Human Rights Charter, as agreed in all International Conventions on the definition of Human Rights, and signed by all U.N. member states who are bound to uphold them, Vietnam included when it joined the U.N. on September 12, 1982.
This is also an occasion for us to commemorate those who have sacrificed themselves to protect Human Rights, those who have been or still are victims of Human Rights violation, and those imprisoned for fighting for Human Rights, and we also think of their loved ones.
While in practically every country in the world, the people are enjoying the most basic rights of human beings, in Vietnam, only counting since 2006 to present day, there has been nearly 200 people incarcerated, tried and sentenced from 2 to life imprisonment for having exercised their most basic rights like the freedom of expression, the freedom of the press, the freedom of assembly, the freedom of political non-violent activities… On top of this, there have been many cases of the ethnic Highland minorities like the E-De, Gia Rai, M’Nong, Ba Na and the H’Mong in the North West who have been imprisoned from 2 to 18 years for their fight to protect their freedom of religions and beliefs. There are scores of cases of religion or rights activists who are not imprisoned but are regularly victims of campaigns of harassment, smear and discriminations… There are also many people who were arrested and conducted to police precincts in good form, but several hours later they came out feet first, or with bruises and injuries all over for the luckier ones.
While we are here to celebrate this day of the International Human Rights Charter, some 100 of our friends are being imprisoned for exercising their rights and for fighting to protect human rights of others.
We are citizens of Vietnam, and we are citizens of the United Nations. It’s the United Nations’ responsibility to protect and to promote Human Rights, and it’s the government of each member state to uphold them as it is the human rights organisations as well as every citizen’s responsibility to respect and exercise them.
On January 1st, 2014, Vietnam officially takes up seat in the U.N.’s Human Rights Council for a 3 years term. This is an opportunity and a challenge for us to pull ourselves together in the fights to improve the Human Rights situation in Vietnam.
On this occasion of the International Human Rights Day, together we are appealing to the governments of countries, to the international organisations, and to all concerned by the Human Rights conditions in Vietnam. Please voice your demand to the Vietnamese government to release immediately and unconditionally all political prisoners and prisoners of conscience. Please exhort the Vietnamese government to respect and uphold the Human Rights Convention to which they have agreed in respect of the international community and the Vietnamese people.
Now, please let me invite you all to stand up and during one minute of silence, please let us think of all the victims of Human Rights violations, and let us pray for those who are imprisoned for their fight for or for their exercise of the basic rights of a human being.

Thank you very much to our guests today. I wish you all good health and may God bless us all.

Bài phát biểu của Hội AEDC trong buổi giao lưu kỷ niệm ngày Quốc tế Nhân quyền:

Buổi gặp có sự tham dự của đại diện các sứ quán Hoa Kỳ, Úc, Thụy Điển và CHLB Đức

Buổi gặp có sự tham dự của đại diện các sứ quán Hoa Kỳ, Úc, Thụy Điển và CHLB Đức

Thưa các vị khách quí,
Thưa các bạn đồng nghiệp,

Trước tiên, cho tôi thay mặt Hội AEDC được cảm ơn sự có mặt của các vị khách quí đại diện cho các cơ quan ngoại giao quốc tế tại Hà Nội, cảm ơn sự có mặt của các bạn đồng nghiệp đến từ No U FC, Hoang Sa FC, Mạng lưới Blogger Vietnam và tất cả các anh chị em trong Hội AEDC.
Hôm nay, chúng ta có mặt tại đây để kỷ niệm Ngày Nhân quyền Quốc tế.
Ngày 10 tháng 12 hàng năm được tôn vinh là Ngày Nhân quyền Quốc tế, được các nước trên thế giới kỷ niệm, là ngày Liên Hợp Quốc công bố Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền. Ngày này vào năm 1948, bà Eleanor Roosevelt, nguyên Đệ nhất phu nhân Hoa Kỳ đã đại diện Liên Hợp Quốc tuyên đọc bản Tuyên ngôn Quốc tế nhân quyền lịch sử này tại Paris, Pháp.
Ngày 4/12/1950, trong phiên họp toàn thể lần thứ 317, Liên Hợp Quốc chính thức công nhận ngày 10 tháng 12 hằng năm là “Ngày Nhân Quyền” (Human Rights Day).
Quyền con người có giá trị phổ quát toàn cầu, bởi nó đã được Liên Hiệp Quốc ghi nhận trong Tuyên ngôn Quốc tế về Nhân quyền, trong các Công ước Quốc tế về các quyền con người. Đồng thời đã được các quốc gia thành viên ký kết và cam kết thực hiện, trong đó Việt Nam đã gia nhập và ngày 24-9-1982.
Kỷ niệm Ngày Nhân quyền Quốc tế tức là chúng ta cùng nhắc đến những người đã hy sinh để bảo vệ nhân quyền, những người là nạn nhân của sự vi phạm nhân quyền, những người đang phải chịu cảnh lao tù vì họ đã đấu tranh cho nhân quyền và bảo vệ nhân quyền, và thân nhân của họ.
Trong khi hầu hết các quốc gia trên thế giới, người dân các nước đều được hưởng các quyền con người căn bản nhất. Thì tại Việt Nam, chỉ tính từ năm 2006 tới nay, đã có gần 200 trăm người khi họ thực thi các quyền con người của mình như quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, quyền lập hội, quyền hoạt động chính trị ôn hòa… đã bị bắt giam, bị xét xử và cầm tù từ 2 năm tới trung thân. Ngoài ra còn có hàng trăm người sắc tộc thiểu số ở Tây Nguyên như Ê Đê, Gia Rai, M’Nông, Ba Na, và người H’Mông ở các tỉnh Tây Bắc bị cầm tù từ 2 năm tới 18 năm vì đấu tranh cho quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của họ. Nhiều người hoạt động nhân quyền, hoạt động tôn giáo tuy chưa bị cầm tù, nhưng họ thường xuyên bị sách nhiễu, bị bôi nhọ và bị phân biệt đối xử. Đã có rất nhiều người dân khi bị bắt đưa vào đồn cảnh sát thì họ hoàn toàn khỏe mạnh. Nhưng chỉ ít giờ sau thì họ đã trở thành cái xác không hồn, còn nhiều người khác tuy không mất mạng, nhưng cũng với thương tích đầy mình.
Trong khi chúng ta đang ngồi đây để kỷ niệm Ngày Nhân quyền Quốc tế, thì vẫn còn trên người 100 người bạn của chúng ta vẫn đang bị cầm tù vì họ thực thi quyền làm người của họ và vì họ đấu tranh cho nhân quyền.
Chúng ta không chỉ là công dân Việt Nam, mà chúng ta còn là công dân của LHQ. Trách nhiệm đấu tranh bảo vệ nhân quyền và thúc đấy quyền con người là trách nhiệm của LHQ, trách nhiệm của chính phủ các nước, các tổ chức bảo vệ nhân quyền quốc tế và là trách nhiệm của tất cả mỗi chúng ta.
Ngày 1 tháng 1 năm 2014, Việt Nam chính thức là thành viên của Hội đồng Nhân quyền của LHQ, với nhiệm kỳ 3 năm. Đây là thời cơ cũng như thách thức để chúng ta cũng nhau thúc đẩy việc cải thiện tình trạng nhân quyền ở Việt Nam.
Nhân dịp Ngày Quốc tế Nhân quyền, chúng ta cùng nhau kêu gọi chính phủ các nước, các tổ chức quốc tế và tất cả những ai quan tâm đến nhân quyền tại Việt Nam. Hãy lên tiếng kêu gọi chính phủ Việt Nam trả tự ngay lập tức và không điều kiện cho tất các tù nhân chính trị và các tù nhân lương tâm. Kêu gọi chính phủ Việt Nam hãy tôn trọng cũng như thực thi các cam kết với cộng đồng quốc tế và với nhân dân Việt Nam về nhân quyền.
Bây giờ, xin mời tất chúng ta cùng đứng lên và hãy dành 1 phút tưởng niệm những nạn nhân của sự vi phạm nhân quyền, và thầm cầu nguyện cho những người đang bị cầm tù vì họ đã thực thi quyền con người và vì đấu tranh cho quyền con người.
Xin cảm ơn tất cả Quí vị. Chúc các Quí vị mạnh khỏe. Chúa ban phước cho tất cả chúng ta.

MẤY NÉT VỀ NGÀY QUỐC TẾ NHÂN QUYỀN 10 THÁNG 12

nhân quyềnHai chữ “nhân quyền” nghe thật xa vời với người Việt chúng ta! Đúng vậy. Thế nhưng khi đối diện với những vấn đề của các quyền cụ thể (quyền tự do kinh doanh, quyền đi lại, ngôn luận…), hay tìm hiểu về những con người – nạn nhân cụ thể (người mất đất, người bị tù oan…) thì các quyền rõ ràng là rất gần với mỗi người.

Mặt khác, bởi lẽ các quyền con người phụ thuộc lẫn nhau, nếu không có cái nhìn tổng thể về các quyền thì chúng ta khó lý giải được nguồn gốc và tìm ra các giải pháp cho các vi phạm. Giáo dục và phổ biến nhân quyền đòi hỏi tính hệ thống là vì vậy. Tổ chức các hoạt động kỷ niệm Ngày Nhân quyền (10/12), bên cạnh mục đích tôn vinh những người bảo vệ nhân quyền, cũng là một hoạt động hữu hiệu để giáo dục công chúng.

Bản “Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền” (Universal Declaration of Human Rights) được Đại hội đồng Liên Hợp quốc thông qua vào ngày 10/12/1948. Bản Tuyên ngôn này là nền tảng cho hai công ước cơ bản về quyền con người cùng được LHQ thông qua vào năm 1966 (ICCPR và ICESCR – Việt Nam đã gia nhập vào năm 1982), cũng như các văn kiện nhân quyền quốc tế trong nhiều lĩnh vực được thông qua sau đó. Nhiều văn kiện của các tổ chức liên chính phủ ở nhiều khu vực cũng chịu ảnh Continue reading