Mảng Trống Nhân Quyền

Trong khi tôi đang ngồi trên bàn làm việc để viết những dòng này thì trên khắp mọi nẻo đường của cuộc sống, từ vùng thành thị đông đúc cho tới vùng làng mạc hẻo lánh, xa xôi có biết bao nhiêu con người đã và đang dùng lương tâm đạo đức, sự chính trực và trí tuệ của họ đấu tranh bảo vệ quyền con người. Họ không khuất phục trước sự sách nhiễu, đấu tố, đánh đập, giam giữ tùy tiện, bị đe dọa mạng sống và bị cấm tự do đi lại để đấu tranh bảo vệ quyền con người – thành tựu chung của cả loài người.  Quyền con người là thành tựu chung của cả loài người, là kết tinh của nền văn minh nhân loại. Một xã hội muốn được coi là công bằng, dân chủ, văn minh thì trước hết trong xã hội đó phải tôn trọng quyền con người. Ngược lại, nơi nào quyền con người bị phủ nhận và chà đạp, thì cho dẫu không có chiến tranh đẫm máu, người ta chỉ sống trong một thứ hòa bình giả tạo mà thôi. Lịch sử loài người cho thấy, tri thức về quyền con người có ý nghĩa quan trọng cho sự phát triển và tiến bộ của các xã hội cũng như là tiền đề cho sự phát triển đầy đủ về nhân cách và năng lực của mỗi cá nhân. Ở phạm vi rộng hơn, tri thức về quyền con người là tiền đề cho hòa bình và thịnh vượng của toàn nhân loại.

  Cho đến nay, chúng ta phải thừa nhận rằng khó có thể tìm thấy một định nghĩa triết học “kinh điển” nào về quyền con người. Ngay cả những nhà tư tưởng lớn như Lôccơ, Rútxô… và sau này Mác, Engen, Lênin cũng không đưa ra một định nghĩa nào về khái niệm này giống như cách làm thông thường đối với các khái niệm triết học khác. Quyền con người (human rights) là một phạm trù đa diện, do đó có nhiều định nghĩa khác nhau (theo một tài liệu của Liên Hiệp Quốc, có đến gần 50 định nghĩa về quyền con người đã được công bố) ( United Nations: Human Rights: Question and Answers, Geneva, 1994.). Chúng ta thường chỉ tìm thấy các định nghĩa kiểu như “quyền con người là quyền…“. Chẳng hạn, Lốccơ nói : “quyền tự nhiên của con người là quyền sống, quyền tự do, quyền tư hữu” . Các văn bản pháp lý đầu tiên quy định về quyền con người là ” Luật về các quyền” của Anh (1689); ” Tuyên ngôn độc lập” của Hoa Kỳ (1776); “Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền” của Pháp (1789). Tuyên ngôn Độc lập của Mỹ 1776 viết: quyền con người – đó là “các quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”. Hiến pháp 1791 của Pháp viết: quyền con người – đó là “ quyền tự do, sở hữu, được an toàn và chống lại áp bức”. Cho đến nay, từ Đông sang Tây đã có rất nhiều định nghĩa về quyền con người, có những định nghĩa liệt kê quyền con người bao gồm những quyền cụ thể nào đó, có những định nghĩa rất khái quát. Mỗi định nghĩa tiếp cận vấn đề từ một góc độ nhất định, chỉ ra những thuộc tính nhất định, nhưng không định nghĩa nào bao hàm được tất cả các thuộc tính của quyền con người.

     Ngày 10 tháng 12 năm 1948, Ðại Hội Ðồng Liên Hiệp Quốc đã long trọng tuyên bố bản tuyên ngôn quốc tế nhân quyền. Ðây là lần đầu tiên trong lịch sử nhân loại, cộng đồng thế giới  đã đưa ra một văn kiện đầu tiên của bộ luật quốc tế về quyền con người. Ngày nay, bảo vệ quyền con người đã trở thành một nguyên tắc cơ bản của pháp luật quốc tế. Khoản 1 và 2 của bản tuyên ngôn nhân quyền đã khẳng định rằng: “Tất cả mọi người sinh ra đều tự do và bình đẳng trong phẩm giá và quyền lợi, và mỗi một cá nhân, không phân biệt chủng tộc, màu da, phái tính, ngôn ngữ, tôn giáo, chính kiến, nguồn gốc dân tộc hay xã hội… đều được hưởng mọi quyền lợi và tự do, được công bố trong bản tuyên ngô .Về mặt lý luận, các quyền con người (các quyền cá nhân) được chia thành hai nhóm chính là nhóm các quyền dân sự, chính trị và các nhóm các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa. Cả hai nhóm quyền này cùng được ghi nhận trong Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền con người năm 1948. Bản tuyên ngôn nhân quyền đã được công bố một thời gian ngắn sau đệ nhị thế chiến. Thảm kịch của chiến tranh đã cho nhân loại mỗi lúc một hiểu rằng hòa bình chỉ thực sự có khi con người biết tôn trọng quyền lợi và tự do căn bản của con người.

     Ở Việt Nam các quyền cơ bản của con người cũng đã được khẳng định trong Hiến pháp và nhiều văn bản luật. Một số định nghĩa về quyền con người do một số chuyên gia, cơ quan nghiên cứu từng nêu ra cũng không hoàn toàn giống nhau, nhưng xét chung, quyền con người thường được hiểu là những nhu cầu, lợi ích tự nhiên, vốn có và khách quan của con người được ghi nhận và bảo vệ trong pháp luật quốc gia và các thỏa thuận pháp lý quốc tế. Quyền con người và luật quốc tế về quyền con người từ lâu đã là một chuyên ngành nghiên cứu riêng ở nhiều nước trên thế giới, tuy nhiên, mới chỉ chính thức trở thành chủ đề nghiên cứu ở Việt Nam trong khoảng hơn hai thập kỷ gần đây.  Điều đó trước hết là bởi quyền con người, ít hoặc nhiều tùy theo đối tượng, vẫn còn được cho là chủ đề “nhạy cảm’’ ở Việt Nam.

   Theo tôi, khái niệm chung về quyền con người phải được xác định trên ba bình diện giá trị, đó là giá trị đạo đức và giá trị pháp lý và giá trị văn hóa. Về bình diện giá trị đạo đức, quyền con người là một giá trị xã hội cơ bản, vốn có của con người. Về bình diện giá trị pháp lý, quyền con người là một chế định pháp luật được quốc tế và mỗi quốc gia đảm bảo thực hiện.Theo luật pháp quốc tế cũng như luật pháp trong nước thì quyền con người bao gồm các quyền cơ bản như: quyền sống, quyền tự do và an ninh cá nhân, quyền bình đẳng trước pháp luật và được pháp luật bảo vệ, quyền được tự do đi lại và cư trú, quyền tự do tư tưởng, tín ngưỡng và tôn giáo, quyền tự do ngôn luận, tự do biểu đạt…Đồng thời, chúng ta phải nhận thức rằng vấn đề quyền con người là sự kết tinh các giá trị văn hóa của các dân tộc trên thế giới chứ không phải là sản phẩm riêng của bất kỳ một giai cấp, dân tộc hay khu vực nào; và xu hướng chung trên thế giới trong thế kỷ XXI thì quyền con người sẽ được tôn vinh và bảo đảm ngày càng chặt chẽ hơn, cả trên phương diện quốc gia và quốc tế. Những nhận thức như vậy bước đầu đã giúp giải tỏa một số quan điểm ấu trĩ cho rằng nhân quyền hoàn toàn là ‘sản phẩm’ và công cụ của phương Tây nhằm can thiệp vào chủ quyền của các quốc gia đang phát triển, đặc biệt là các nước XHCN. Quyền con người là vấn đề phức tạp đa nghĩa, chứa đựng những mặt đối lập, mâu thuẫn, nhưng không loại trừ nhau. Đó là các mặt khách quan và chủ quan, tự nhiên và xã hội, kinh tế và tinh thần, văn hoá và chính trị, đạo lý và luật pháp. Nó cũng là sự kết hợp giữa các yếu tố quốc tế và dân tộc, giai cấp và nhân loại. Khi xem xét quyền con người, chúng ta phải phân biệt rõ bản chất và hiện tượng nội dung và hình thức, nguồn gốc và sự phát triển của nó. Xuất phát từ tất cả những khía cạnh đó, có thể nói rằng quyền con người chẳng qua là sự tự ý thức của con người về những giá trị, những nhu cầu sống cơ bản, phù hợp với trình độ phát triển mang tính thời đại của xã hội loài người.

   Như vậy, nhìn ở góc độ nào và ở cấp độ nào thì quyền con người cũng được xác định như là những chuẩn mực được cộng đồng quốc tế thừa nhận và tuân thủ. Những chuẩn mực này kết tinh những giá trị nhân văn của toàn nhân loại, chỉ áp dụng với con người, cho tất cả mọi người. Nhờ có những chuẩn mực này, mọi thành viên trong gia đình nhân loại mới được bảo vệ nhân phẩm và mới có điều kiện phát triển đầy đủ các năng lực của cá nhân với tư cách là một con người. Cho dù cách nhìn nhận có những khác biệt nhất định, một điều rõ ràng là quyền con người là những giá trị cao cả cần được tôn trọng và bảo vệ trong mọi xã hội và trong mọi giai đoạn lịch sử. Tất cả các quốc gia văn minh đều nỗ lực xác định và ủng hộ nhân quyền. Ở đâu cũng vậy, cốt lõi của khái niệm này là giống nhau, đó là: nhân quyền là các quyền mà mỗi con người đều có. Nhân quyền là của mọi người và bình đẳng cho mọi người. Nhân quyền cũng là những quyền bất khả xâm phạm.

  Ở phạm vi bài viết này, như đã nói ở phần đầu “nhân quyền” là một phạm trù đa diện vì vậy thiết nghĩ vấn đề nhân quyền cũng nên được xem xét một cách tổng thể trên tất cả các mặt. Tiếp cận vấn đề nhân quyền trên mặt pháp lý, Chính phủ Việt Nam đã tham gia nhiều văn kiện quốc tế liên quan đến vấn đề nhân quyền và từng bước nội luật hóa. Lần đầu tiên trong Hiến pháp Việt Nam đã thừa nhận thuật ngữ quyền con người. Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước lần đầu tiên ra đời ở Việt Nam… Tuy nhiên, đối chiếu với đòi hỏi của thực tiễn thời kì mới hội nhập, mở cửa một khi các quan hệ xã hội biến đổi nhanh chóng, các quan hệ xã hội mới hình thành thì pháp luật về đảm bảo quyền con người vẫn còn đặt ra những câu hỏi chưa có lời giải đáp thỏa đáng. Luật pháp quy định như vậy nhưng trong thực tế quyền con người có được thực thi nghiêm chỉnh hay không lại là một chuyện khác. Đây là một câu chuyện dài, rất dài…Nhưng “tinh thần thượng tôn pháp luật”, “luật pháp bất vị thân”, “phụng công thủ pháp chí công vô tư” “sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật”…vẫn đang là những câu khẩu hiệu treo lơ lửng trước mắt mọi người!

   Chúng ta cần khách quan đánh giá rằng phải chăng pháp luật về đảm bảo quyền con người, quyền tự do dân chủ của công dân vẫn còn đó những “khoảng trống”, vẫn chưa thể chế hết các quyền mà hiến định? Vì vậy, một số quyền cơ bản của công dân được Hiến pháp quy định nhưng chưa có luật cụ thể hoá để công dân thực hiện như Luật Biểu tình, Luật về Quyền lập hội, Luật về Quyền được thông tin, Luật về Quyền được bí mật đời tư… Từ năm 1988, với sự tuyên bố ngừng hoạt động của Đảng Dân chủ Việt Nam và Đảng Xã hội Việt Nam, nhà nước Việt Nam không cho phép thành lập đảng, tổ chức đối lập công khai cũng như phát hành báo chí tư nhân và biểu tình, mít tinh ngoài biên chế. Những người bất đồng chính kiến đã dùng internet để phổ biến quan điểm của họ rằng họ không đồng tình với chính sách, quy định nào đó của nhà nước, qua hình thức diễn đànblog. Nhiều người đã bị bắt giam vì theo luật Việt Nam họ đã vi phạm Điều 88 Bộ luật Hình sựvề hành vi chống Nhà nước. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành về đảm bảo quyền con người, quyền công dân trong lĩnh vực tư pháp hình sự, nhất là các quy định về giam giữ, điều tra, cải tạo, truy tố, xét xử… chưa thực sự phù hợp với các chuẩn mực quốc tế trong quản lý tư pháp. Tình trạng luật sư chưa được tham gia ngay từ giai đoạn khởi tố bị can, gia hạn tạm giam nhiều lần – kéo dài hàng năm, thậm chí nhiều năm – trong quá trình điều tra… là những biểu hiện vi phạm trong quản lý nhà nước về tư pháp hình sự, không phù hợp với tập quán và thông lệ quốc tế. Luật Trưng cầu dân ý, Luật Tham vấn và phản biện xã hội là những đạo luật tạo điều  kiện cho nhân dân thực hiện quyền tham gia quản lý nhà nước một cách trực tiếp, đến nay chưa có.

   Hiện nay có một số nhà bất đồng chính kiến nổi tiếng như  Cù Huy Hà Vũ, Hà Sĩ Phu, Nguyễn Văn Đài, Lê Công ĐịnhLê Thị Công NhânNguyễn Văn LýNguyễn Đan QuếPhạm Hồng SơnThích Quảng Độ, Trần Huỳnh Duy Thức, Phạm Minh Hoàng, Nguyễn Tiến Trung, Điếu Cày Nguyễn Văn Hải, Tạ Phong Tần….Những người bộc lộ tư tưởng chỉ trích sự lãnh đạo của Đảng được coi là các đối tượng “bất đồng chính kiến“, và ở mức cao hơn là “thế lực thù địch” và bị cầm tù nhiều năm. Trong một số trường hợp, những người bảo vệ quyền con người là đối tượng bị buộc tội hoặc bị các cáo buộc khác dẫn đến việc họ bị truy tố và kết án. Các vụ biểu tình hòa bình, đệ trình đơn khiếu tố chính thức chống lại sự ngược đãi của cảnh sát hay việc tham gia vào cuộc mít tinh của những người bảo vệ quyền con người trong nước hay việc giương biểu ngữ tưởng niệm những nạn nhân của các hành vi vi phạm quyền con người đều bị truy tố theo tội danh “gây rối trật tự công cộng”. Những bản án đưa ra trong trường hợp này bao gồm cả việc phạt tù dài hạn. Tuy nhiên, pháp luật về chế độ bảo hộ của Nhà nước đối với các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân nói chung, nhất là bảo hộ các quyền của công dân trước các cơ quan tư pháp nói riêng, chưa được đảm bảo. Người dân chưa thật sự tin tưởng vào các bản án của Toà án. Cơ chế bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân chưa đi tới cùng. Công dân chưa có quyền yêu cầu xem xét tính hợp hiến, hợp pháp của các văn bản quy phạm pháp luật được các cơ quan công quyền áp dụng đối với mình.

Công dân vẫn còn thiệt thòi trong mối quan hệ với Nhà nước khi bị cơ quan nhà nước, nhân viên cơ quan nhà nước có thẩm quyền xâm hại tới quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Luật Trách nhiệm bồi hường của Nhà nước đã được ban hành, nhưng còn rất khó khăn khi thực hiện trong thực tế. Chưa có cơ chế bảo vệ công dân một cách có hiệu quả trong việc thực hiện quyền tố cáo, nhất là tố cáo người có chức vụ, quyền hạn tham nhũng, tiêu cực.

   Hiện nay chưa có sự rõ ràng giữa “phản biện xã hội” và “chống phá cách mạng” tại Việt Nam. Ví dụ điển hình như trường hợp Cù Huy Hà Vũ có các bài phát biểu đi ngược lại tư tưởng và đường lối lãnh đạo của Đảng đã bị buộc tội “chống phá nhà nước xã hội chủ nghĩa”. Theo Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền mà Việt nam đã ký cam kết thực hiện, công dân có quyền “tự do tư tưởng“, sự phân định giữa “phản biện” và “tuyên truyền chống phá” là chưa nhất quán. Loại hình bảo vệ lợi ích của mình và phản đối các bất cập trong xã hội vẫn xảy ra như nông dân khiếu kiện và biểu tình chống bất công trong việc trưng thu đất đai của họ như vụ việc của ông Đoàn Văn Vươn ở Hải Phòng, công nhân đình công đòi tăng lương, người dân chống tăng giá xăng. Việt Nam hay bất kì nhà nước nào một khi đã tham gia vào các công ước quốc tế thì nhà nước đó phải  có nghĩa vụ phải tuân thủ theo các công ước đó. Nhà nước phải kiềm chế không can thiệp, kể cả trực tiếp hoặc gián tiếp vào việc hưởng thụ các quyền con người của mọi cá nhân.  Đồng thời chính quyền phải có nghĩa vụ bảo vệ, ngăn chặn sự vi phạm các quyền con người của các bên thứ ba, phải có những biện pháp chủ động nhằm hỗ trợ mọi cá nhân hưởng thụ đầy đủ các quyền con người, đặc biệt là các quyền chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa. Là thành viên của nhiều công ước quốc tế hiện hành về quyền con người do Liên hợp quốc ban hành, Việt Nam có nghĩa vụ bảo đảm các quyền con người được ghi nhận trong các công ước. Điều này cũng sẽ góp phần thúc đẩy sự phát triển của xã hội theo hướng công bằng, dân chủ.

   Tóm lại, tuy đã thừa nhận và thể chế thành pháp luật nhiều giá trị mới, nhưng pháp luật về quyền con người ở Việt Nam còn rất nhiều “mảng trống”, chưa bao quát hết thảy các lĩnh vực, các loại chủ thể, các hình thức và phương tiện thực hiện các quyền con người, quyền công dân mà Hiến pháp và cuộc sống đòi hỏi.

   Trong phạm vi bài viết, để có thể thực hiện tốt vấn đề nhân quyền với tầm nhận thức và tri thức nhỏ bé của mình tôi chỉ mạnh dạn góp ý ba vấn đề: thứ nhất, về nghiên cứu khoa học về nhân quyền; thứ hai, vấn đề về hoàn thiện pháp luật về nhân quyền; thứ ba, vấn đề giáo dục nhân quyền.

  Nghiên cứu khoa học về quyền con người là một hoạt động cần thiết và quan trọng, bắt nguồn từ nhu cầu hội nhập quốc tế nói riêng và sự nghiệp đổi mới nói chung ở Việt Nam. Tuy nhiên, xét về mọi khía cạnh, hoạt động nghiên cứu khoa học về quyền con người ở Việt Nam hiện mới chỉ ở giai đoạn đầu, còn nhiều hạn chế cả về mức độ, phạm vi, kết quả nghiên cứu và hiệu quả ứng dụng. Việc thúc đẩy hoạt động nghiên cứu khoa học về quyền con người là một yêu cầu cần thiết và cấp thiết trong thời gian tới nhà nước cần tiếp tục khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi về mọi mặt cho hoạt động nghiên cứu trên lĩnh vực quyền con người bao gồm việc cho phép thành lập thêm các cơ sở nghiên cứu mới và đào tạo các chuyên gia có kiến thức chuyên sâu về lĩnh vực này.

  Cơ chế bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân khi bị Nhà nước, các nhân viên nhà nước có thẩm quyền xâm hại đến còn chưa bình đẳng. Dân chủ hoá tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước cũng là một đòi hỏi bức thiết, cần phải công khai, minh bạch hơn nữa, cần nghiên cứu xây dựng Luật về Công khai minh bạch hoạt động của cơ quan nhà nước và người có thẩm quyền. Theo đó, trong thời gian tới cần xây dựng Tòa án Hiến pháp. Xuất phát từ thực trạng pháp luật hiện hành về quyền con người và quyền tự do dân chủ của công dân, nhu cầu đầu tiên của hoàn thiện pháp luật về quyền con người là phải tiếp tục cụ thể hoá các quyền hiến định. Theo đó, một mặt phải sớm ban hành các luật về quyền tự do lập hội, quyền tự do hội họp, luật biểu tình, luật thông tin, luật trưng cầu dân ý… Mặt khác, phải nâng các pháp lệnh như Pháp lệnh về dân chủ cơ sở, Pháp lệnh về tôn giáo tín ngưỡng, … lên thành luật.

  Quyền con người, quyền công dân không chỉ được thực hiện bằng việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật mà còn phải được tổ chức thực hiện pháp luật trên thực tế. Vì thế, tuyên truyền giáo dục pháp luật, nâng cao ý thức pháp luật và văn hoá pháp lý về quyền và nghĩa vụ của công dân là một định huớng quan trọng cùng với xây dựng và hoàn thiện pháp luật. Bằng các hoạt động nghiên cứu, xây dựng thư viện, dịch tài liệu, biên soạn giáo trình, giảng dạy về quyền con người, sẽ góp phần nâng cao nhận thức của cộng đồng trong lĩnh vực này.

   Tác giả tin tưởng rằng giáo dục nhân quyền, rất phù hợp với truyền thống nhân đạo, với chủ nghĩa nhân văn của dân tộc, sẽ phát triển nhanh chóng và đem lại hiệu quả thiết thực cho xã hội nếu được chúng ta quan tâm đúng mức. Tuy nhiên, có lẽ theo tác giả vấn đề đầu tiên là mỗi cá nhân phải biết, phải hiểu được quyền của mình để đòi hỏi và tự bảo vệ. Thêm vào đó, mọi cá nhân trong cộng đồng cũng cần có ý thức về nhân phẩm và tôn trọng quyền của người khác.

Hà Nội, Ngày 25 tháng 9 năm 2012

Lê Quang Việt