Chủ nghĩa Dân quyền, 1924

Tôn Trung Sơn (1866 – 1925), còn được gọi là Tôn Dật Tiên hay Tôn Văn, là nhà cách mạng dân chủ Trung Quốc, người lãnh đạo cuộc cách mạng Tân Hợi năm 1911 lật đổ triều đại Mãn Thanh và khai sinh nước Trung Hoa Dân quốc. Ông được người Trung Hoa yêu mến gọi là “Quốc phụ Trung Hoa” (người cha của đất nước Trung Hoa). Ông đã nêu ra chủ thuyết “Tam dân” (dân tộc độc lập, dân quyền tự do, dân sinh hạnh phúc). Chủ thuyết “Tam dân” của ông có ảnh hưởng lớn đến tầng lớp trí thức yêu nước ở Việt Nam, đặc biệt là đối với Quốc Dân Đảng Việt Nam, trong những năm 1920 – 1930. Ủy Ban Nhân Quyền Việt Nam sưu tầm và giới  trích giới thiệu một bài giảng tiêu biểu của ông liên quan đến chủ nghĩa dân quyền.

 Bài 1. Giảng ngày 9/3 năm Dân quốc thứ 13 (1924)

Thưa các vị,

Hôm nay tôi bắt đầu nói về Chủ nghĩa Dân quyền.

Chủ nghĩa Dân quyền là gì?

Để giải thích từ “dân quyền”, trước hết cần biết “dân” là gì? Thường một khối người có đoàn thể, có tổ chức thì gọi là “dân”. “Quyền” là gì? Là lực lượng, là uy thế, lực lượng được mở rộng tới pham vi quốc gia thì gọi là quyền. Những nước có lực lượng lớn nhất, tiếng Trung Quốc gọi là cường quốc, tiếng nước ngoài gọi là đại cường. Về sức mạnh của máy móc, tiếng Trung Quốc dùng từ mã lực, tiếng nước ngoài dùng từ sức ngựa. Do đó, ta thấy quyền và lực trên thực tế được dùng như nhau. Quyền là lực lượng sử dụng mệnh lệnh, chi phối các quan hệ giữa con người trong cộng đồng. Ghép “dân” với “quyền” thành “dân quyền”, đó là sức mạnh chính trị của nhân dân. Sức mạnh chính trị là gì? Muốn hiểu rõ điều này, trước hết phải hiểu chính trị là gì? Nhiều người nghĩ rằng chính trị là những gì rất huyền bí, rất bí hiểm, thâm thúy mà người thường không dễ hiểu được. Do đó, các quân nhân Trung Quốc thường nói: “Chúng tôi là quân nhân, chúng tôi không hiểu chính trị”. Tại sao không hiểu chính trị? Vì họ coi chính trị là cái gì rất thần bí, rất thâm thúy. Họ không biết rằng chính trị là cái gì rất rõ ràng, rất dễ hiểu. Nếu quân nhân nói họ không can thiệp chính trị thì còn có thể nghe được, nhưng nói họ không hiểu chính trị thì khó lọt tai. Vì quân nhân là động lực của chính trị do đó đương nhiên quân nhân phải hiểu chính trị, phải hiểu rõ chính trị là gì . Về ý nghĩa của hai chữ “chính trị”, nói giản đơn, thì “chính” là việc của dân chúng, “trị” là quản lý, quản lý việc của dân chúng thì gọi là chính trị. Lực lượng quản lý công việc của dân chúng là chính quyền. Nay nhân dân quản lý công việc chính trị nên gọi là “dân quyền”.

Bây giờ, khi đã rõ định nghĩa về dân quyền, chúng ta cần nghiên cứu chức năng của nó. Nhìn suốt thời cận đại, nhìn ngược lại thời cổ đại, nói một cách giản đơn, chức năng của quyền lực là duy trì sự sinh tồn của loài người. Muốn sinh tồn, loài người phải làm hai việc lớn nhất: thứ nhất là bảo, thứ hai là dưỡng. Bảo và dưỡng là hai việc lớn mà loài người làm hàng ngày. Bảo là tự vệ, dù là cá nhân, đoàn thể, hay quốc gia đều phải có năng lực tự vệ mới có thể sinh tồn. Dưỡng là kiếm ăn. Tự vệ và kiếm ăn là hai việc lớn mà loài người phải làm nhằm duy trì sự sinh tồn của mình. Nhưng loài người cần duy trì sinh tồn, các loài động vật khác cũng cần duy trì sinh tồn; loài người cần tự vệ, các loài động vật khác cũng cần tự vệ; loài người cần kiếm ăn, các loài động vật khác cũng cần kiếm ăn, cho nên nhu cầu bảo và dưỡng của loài người xung đột với nhu cầu bảo và dưỡng của động vật, và thêm xẩy ra cạnh tranh. Loài người phải tìm cách sinh tồn trong cạnh tranh, do đó phải phấn đấu. Vậy phấn đấu là việc không bao giờ ngừng từ khi có loài người đến nay. Như vậy quyền lực là thứ loài người dùng để phấn đấu. Từ khi bắt đầu hình thành đến nay loài người không ngừng phấn đấu. Quá trình phấn đấu của loài người có thể chia làm mấy thời kỳ: Thứ nhất, thời kỳ thái cổ hồng hoang, trước khi có lịch sử. Thời kỳ này dài ngắn thế nào, hiện nay ta chưa biết. Nhưng gần đây các nhà địa chất học nghiên cứu địa tầng, tìm ra được những hòn đá có bằng cứ về dấu vết của loài người cách đây khoảng hai triệu năm. Những hòn đá từ hai triệu năm về trước thì không có dấu vết của loài người. Nói tới chuyện mấy triệu năm về trước, người thường dường như mù mịt. Nhưng gần đây địa chất học rất phát triển, các nhà địa chất học phân loại đá trên trái đất thành nhiều tầng, mỗi tầng hợp thành một số niên đại, tầng này là đá của thời tối cổ, tầng kia là đá của thời cận đại, và dùng đá để phân biệt niên đại. Nói hai triệu năm, đối với chúng ta dường như rất xa xưa, nhưng đối với các nhà địa chất học đó chỉ là một thời gian ngắn ngủi. Hai triệu năm về trước có rất nhiều địa tầng, nhưng khoảng thời gian từ trên hai triệu năm tới khi trái đất còn chưa kết thành đá thì không có cách nào khảo cứu được. Thường người ta nói trước khi kết thành đá, trải đất là chất lỏng và trước chất lỏng là một thể khí. Vậy nói theo logic của triết học tiến hóa thì trái đất vốn là thể khí cũng giống như mặt trời vậy. Ban đầu mặt trời và thể khí đó đều ở trong không trung, tạo thành một đám tinh vân. Khi mặt trời co lại thì tỏa ra rất nhiều khí, lâu dần ngưng thành thể lỏng, rồi từ thể lỏng đông kết thành đá. Đá cổ nhất có tuổi mấy chục triệu năm. Hiện nay khảo cứu các đá có bằng cứ về dấu vết loài người, các nhà địa chất học xác định chúng có tuổi trên hai chục triệu năm. Do đó họ suy luận: trái đất, kể từ khi chuyển từ thể khí thành thể lỏng, phải mất vài chục triệu năm; từ thể lỏng thành thể đá rắn cũng phải mất vài chục triệu năm; từ khi có đá cổ xưa nhất đến nay ít nhất đã là hai chục triệu năm. Hai mươi triệu năm trước, do không có lịch sử thành văn nên ta cho là đã rất xưa, nhưng các nhà địa chất học thi coi vẫn còn rất mới mẻ.

Những chuyện địa chất học như trên có liên quan gì đến bài giảng hôm nay của chúng ta? Nói nguồn gốc của trái đất thì từ đó có thể suy ra nguồn gốc của loài người. Các nhà địa chất học khảo sát thấy loài người sinh ra trong vòng hai triệu năm lại đây, và văn hóa mới chỉ xuất hiện cách đây hai mươi vạn năm. Hai mươi vạn năm trước, người và cầm thú không khác nhau nhiều lắm, vì vậy các nhà triết học nói con người tiến hóa từ động vật chứ không hình thành một cách ngẫu nhiên. Từ hai mươi vạn năm trở lại đây loài người và muôn vật dần dần tiến hóa để hình thành thế giới ngày nay.

Thế giới ngày nay là thế giới gì? Là thế giới dân quyền.

Tuy mầm mống dân quyền đã có từ thời Hy Lạp, La Mã cách đây hai nghìn năm, nhưng nó mới chỉ được xác lập vững vàng cách đây 150 năm. Trước đó là thời đại quân quyền và trước thời đại quân quyền là thời đại thần quyền, còn trước thần quyền là thời đại hổng hoang, thời đại người đánh nhau với thú. Trong thời đại này loài người muốn sinh tồn, muông thú cũng muốn sinh tồn. Cách thức để loài người bảo toàn sự sinh tồn của mình, một mặt là kiếm ăn, mặt khác là tự vệ. Trong thời đại thái cổ, người ăn thú, thú cũng ăn người, hai bên không ngừng đấu tranh với nhau. Khắp nơi đều là rắn độc thú dữ, vây bọc con người là tai họa. Muốn sinh tồn, loài người phải phấn đấu. Chiến tranh vào thời ấy là sự xung đột hỗn loạn khắp nơi giữa người và thú. Không có sự kết hợp thành các đoàn thể lớn, mà mạnh ai nấy đánh nhau.

***

Trung Hoa Dân quốc thành lập đã 13 năm, hoàng đế đã bị lật đổ, hiện nay không có quân quyền. Nhật Bản hiện nay vẫn là nước quân quyền, vẫn lễ thần, vì thế người Nhật gọi hoàng đế Nhật Bản là Thiên hoàng. Trước đây chúng ta cũng gọi hoàng đế Trung Quốc là Thiên tử. Trong thời đại đó, tuy quân quyền phát triển đã rất lâu, nó vẫn không thể tách khỏi thần quyền. Mấy trăm năm trước hoàng đế Nhật Bản đã bị giới võ sĩ lật đổ, nhưng cách đây 60 năm, Minh Trị tiến hành duy tân, lật đổ Tukugawa, khôi phục Thiên hoàng. Hiện nay Nhật Bản vẫn dùng cả quân quyền, thần quyền. Ngày xưa hoàng đế La Mã cũng là giáo chủ một quốc gia. Sau khi La Mã tiêu vong, hoàng đế bị lật đổ chính quyền cũng bị cướp đoạt, nhưng giáo quyền vẫn được giữ lại, nhân dân các nước vẫn tôn phong giáo chủ, giống như thời Xuân Thu ở Trung Quốc các nước vẫn tôn thờ nhà Chu. Từ đó ta thấy, sau thời người đấu tranh với thú thì có thiên tai, người phải đấu tranh với trời, do đó phát sinh thần quyền. Từ khi có lịch sử đến nay, sau khi trải qua thời đại thần quyền thì phát sinh quân quyền. Giới quân sự có thế lực và các nhà chính trị đã giành quyền lực của giáo hoàng rồi tự phong là giáo chủ, hoặc tự xưng là hoàng đế. Thế là chuyển từ thời đại người đấu tranh với trời sang thời đại người đấu tranh với người. Đến thời người đấu tranh với người, người ta cảm thấy chỉ dựa vào tín ngưỡng tôn giáo thì không thể duy trì xã hội loài người, không thể cạnh tranh với người khác. Cần phải có đường lối chính trị sáng suốt và lực lượng quân sự hùng mạnh mới có thể cạnh tranh với người khác. Thế giới từ khi có lịch sử tới nay là thế giới trong đó người luôn phải đấu tranh với người. Ngày xưa, khi đấu tranh với nhau, con người dùng cả thần quyền, cả quân quyền. Sau đó thần quyền giảm dần, và sau khi đế chế La Mã tan rã thì nó yếu dần đi. Trong khi đó quân quyền dần mạnh lên và đến đời vua Louis XIV của Pháp thì nó đạt tới điểm cực thịnh. Ông ta nói: “Hoàng đế và quốc gia không có gì phân biệt, ta là hoàng đế, do đó ta chính là quốc gia”. Ông ta thâu tóm mọi quyền hành trong nước, chuyên chế đến cực điểm, giống như Tần Thủy Hoàng ở Trung Quốc vậy. Nền chuyên chế quân chủ ngày càng trở nên ghê gớm đến mức nhân dân không thể chịu đựng nó

Đến thời đại này, khoa học ngày một phát triển, tri thức chung của loài người ngày một nâng cao, nhân dân đã có một giác ngộ mới, họ biết rằng các nhà quân chủ luôn lạm dụng quyền lực lớn, biến quốc gia và nhân dân thành tài sản riêng của mình, cung cấp khoái lạc cho cá nhân ông ta, nhân dân cực khổ ông ta không cần biết. Khi nhân dân không thể chịu đựng nổi, họ ngày càng hiểu rõ, ách chuyên chế quân chủ là vô đạo, cần chống lại nó, và chống lại nó tức là làm cách mạng.

Vỉ thế hơn một trăm năm nay, trào lưu tư tưởng cách mạng rất phát triển, dẫn đến cách mạng dân quyền. Trong cách mạng dân quyền, ai đấu tranh với ai? Nhân dân đấu tranh với vua chúa. Vì thế, phân tích thời đại, có thể giúp chúng ta tìm nguồn gốc của dân quyền. Xin khái quát lại một lần nữa: Thời kỳ thứ nhất, người đấu tranh với thú, không dùng quyền mà dùng sức cơ bắp; thời kỳ thứ hai, người đấu tranh với trời, dùng thần quyền; thời kỳ thứ ba, người đấu tranh với người, nước này đấu tranh với nước kia, dân tộc này đấu tranh với dân tộc kia, dùng quân quyền; thời kỳ thứ tư, tức là hiện nay, đấu tranh trong nước, nhân dân đấu tranh với nhà vua. Có thể nói, đây là thời đại người thiện đấu tranh với kẻ ác, công lý đấu tranh với cường quyền. Ở thời đại này, dân quyền dần dần phát triển, vì thế có thể gọi đây là Thời đại Dân quyền. Thời đại này rất mới. Chúng ta bước vào thời đại rất mới này, so với thời đại quân quyền, là tốt hay không tốt? Xưa kia, khi tri thức của loài người chưa mở mang, phải dựa vào vua sáng, tướng tài dẫn đường. Ở thời đó quân quyền rất hữu dụng. Trước khi chế độ quân quyền ra đời, thần nhân dùng thần đạo, lập ra tôn giáo để duy trì xã hội. Ở thời đó thần quyền cũng rất hữu dụng. Hiện nay thần quyền, quân quyền đều đã là vết cũ của quá khứ Thời đại Dân quyền đã tới. Xét về mặt logic, tại sao muốn chống quân quyền lại nhất định phải dùng dân quyền? Vì gần đây nền văn minh rất tiến bộ, tri thức của loài người rất phát triển, nhân dân đã có sự giác ngộ lớn về bản thân mình. Ví như khi còn là trẻ nhỏ, chúng ta cần cha mẹ bế ẵm, nhưng khi đã lớn, đã đi kiếm sống thì không thể tiếp tục dựa vào cha mẹ mà phải độc lập. Nhưng hiện nay vẫn còn rất nhiều học giả ủng hộ quân quyền, bài xích dân quyền. Ở Nhật Bản, Âu – Mỹ đều có loại học giả này. Những học giả cũ ở Trung Quốc cũng cùng một dạng. Tầng lớp quan lại cũ hiện nay vẫn chủ trương phục hồi ngôi vua, khôi phục đế chế. Hiện nay học giả trong nước, người thì chủ trương quân quyền, người thi chủ trương dân quyền, làm cho chưa định được chính thể. Chủ trương nền chính trị dân quyền, chúng ta phải khảo sát tình hình dân quyền ở các nước trên thế giới đặng thực hiện tốt chủ trương đó.

Khoảng thời gian hai mươi vạn năm tới một vạn mấy nghìn năm về trước, loài người dùng thần quyền. Thần quyền rất thích hợp với trào lưu của thời đại đó. Hiện nay ở Tây Tạng, nếu đột nhiên thiết lập chế độ quân quyền, nhân dân nhất định phản đối, vì họ sùng tín giáo chủ, tôn thờ Phật sống, tin vào uy quyền của Phật sống, phục tùng mệnh lệnh của Phật sống. Mấy nghìn năm trước, châu Âu cũng như vậy. Văn hóa Trung Quốc phát triển sớm hơn châu Âu, quân quyền nhiều hơn thần quyền. Thời đại quân quyền xuất hiện từ rất sớm ở Trung Quốc. Nhưng từ “dân quyền” mới truyền tới Trung Quốc từ thời cận đại. Hôm nay các vị tới đây để ủng hộ chủ trương cách mạng của tôi, đương nhiên là ủng hộ dân quyền. Tầng lớp quan lại cũ muốn khôi phục ngôi vua, muốn làm vua, đương nhiên phản đối dân quyền, ủng hộ quân quyền.

Vậy quân quyền hay dân quyền thích hợp với Trung Quốc ngày nay? Vấn đề này rất đáng để nghiên cứu. Xét về cơ bản, quân quyền hay dân quyền đều dùng để quản lý chính trị, để làm việc vì dân chúng, nhưng về mặt chính trị, tình hình các thời đại không giống nhau, do đó phương pháp dùng để quản lý cũng không giống nhau. Vậy hiện nay Trung Quốc dùng dân quyền thích hợp hay không thích hợp? Có người nói trình độ dân trí Trung Quốc quá thấp, không thích hợp với dân quyền. Hoa Kỳ vốn là nước dân quyền, nhưng khi Viên Thế Khải đòi làm hoàng đế có một vị giáo sư đại học, tên là Goodnow, từ Hoa Kỳ đến Trung Quốc, cho rằng Trung Quốc nên áp dụng chế độ quân quyền. Ông ta nói, tư tưởng của nhân dân Trung Quốc chưa phát triển, văn hóa không bằng Âu – Mỹ, vì vậy không nên dùng dân quyền. Viên Thế Khải lợi dụng câu nói này, lật đổ Dân quốc, tự xưng là hoàng đế.

Hiện nay chúng ta chủ trương dân quyền nên phải hiểu thật rõ về nó. Từ khi có lịch sử, Trung Quốc chưa hề thực hiện chế độ dân quyền. Ngay trong 13 năm Dân quốc vừa qua cũng chưa thực hiện dân quyền. Lịch sử nước ta đã trải qua hơn 4.000 năm, trong đó có thời thịnh trị, có thời loạn ly, nhưng đều áp dụng chế độ quân quyền. Vậy đối với Trung Quốc, quân quyền có lợi hay có hại? Có thể nói ở Trung Quốc, quân quyền vừa có lợi vừa có hại. Nhưng xét theo sự thông minh tài trí của người Trung Quốc thì so ra dùng dân quyền vẫn thích hợp hơn nhiều. Không Tử nói “Khi cái đạo lớn được thực hiện thì thiên hạ là của chung”. Tức là ông chủ trương một thế giới đại đồng theo chế độ dân quyền. Và Không Tử “Hễ nói là ca tụng Nghiêu và Thuấn”, bởi vì Nghiêu và Thuấn không coi thiên hạ là nhà mình. Chính trị Nghiêu và Thuấn tuy về danh nghĩa là dùng quân quyền nhưng thực tế là thực hành dân quyền, vì thế Khổng Tử luôn ngưỡng mộ Nghiêu và Thuấn. Mạnh Tử nói: “Dân là quý nhất, sau đó là xã tắc. Còn Vua thì thường”. Lại nói: “Trời nhìn như dân ta nhìn, trời nghe dân như dân ta nghe”, và “Tôi nghe nói đến việc hỏi tội tên bạo chúa Trụ, chứ chưa hề nghe nói đến việc giết vua”. Thời đó Mạnh Tử đã biết các đấng quân vương không nhất thiết là cần, và sẽ không thể trường cửu, vì thế ai đem lại hạnh phúc cho dân thì được ông gọi là “vua sáng”, kẻ nào bạo ngược, vô đạo thì bị gọi là “bạo chúa”, và mọi người cần chống lại. Từ đó ta thấy cách đây hơn 2.000 năm nhân dân Trung Quốc đã nghĩ tới tư tưởng dân quyền, nhưng không thực hiện được nó. Dân quyền chỉ là cái mà người nước ngoài gọi là một “utopia”, một lý tưởng không thể thực hiện ngay được. Còn về ấn tượng của người nước ngoài đối với người Trung Quốc, thì họ coi người Trung Quốc như là giống người dã man ở châu Phi hay ở quần đảo Nam Dương, vì thế khi người Trung Quốc nói với người nước ngoài về dân quyền, họ rất không tán thành. Họ cho rằng làm sao người Trung Quốc có thể cùng nói chuyện dân quyền với người Âu – Mỹ được? Các học giả nước ngoài có quan điểm sai lầm như vậy là do họ không khảo sát lịch sử và tình hình Trung Quốc, họ không biết Trung Quốc thực sự có phù hợp với dân quyền hay không. Cũng giống như người nước ngoài, lưu học sinh Trung Quốc cũng có người nói Trung Quốc không phù hợp với chế độ dân quyền. Quan điểm này thực là sai lầm. Theo tôi, Trung Quốc tiến hóa còn sớm hơn Âu – Mỹ, cách đây mấy nghìn năm Trung Quốc đã bàn về dân quyền, nhưng thời đó mới chỉ bàn mà chưa thực hiện trong thực tế. Hiện nay các nước Âu – Mỹ đã thành lập dân quốc, đã thực hiện dân quyền 150 năm nay. Người Trung Quốc từ xưa cũng có tư tưởng này. Vì thế muốn quốc gia thịnh trị và ổn định lâu dài, muốn nhân dân an lạc, thuận với trào lưu thế giới, chúng ta không thể không thực hiện dân quyền. Nhưng tính đến nay dân quyền xuất hiện chưa thật lâu, nhiều nước trên thế giới đang áp dụng chế độ quân quyền. Các nước thực hiện dân quyền cũng gặp nhiều khó khăn, thất bại.

Ở Trung Quốc, hơn hai nghìn năm trước người ta đã bàn về dân quyền, còn ở các nước Âu – Mỹ chỉ mới thực hiện dân quyền từ 150 năm nay, thế mà hiện nay dân quyền bỗng lan truyền rộng rãi. Dân quyền xuất hiện lần đầu tiên trong thời cận đại ở nước Anh. Cách mạng dân quyền xảy ra ở Anh vào khoảng tương đương với triều Minh – đầu triều Thanh ở Trung Quốc. Lãnh tụ đảng cách mạng thời đó là Cromwell đã giết chết hoàng đế Anh là Charles I. Sự kiện này đã làm kinh động Âu – Mỹ, nhiều người cho rằng đây là việc chưa hề xảy ra trong lịch sử, phải xem là hành động phản nghịch. Ngầm giết vua là việc thường xảy ra ở các nước, nhưng Cromwell không ám sát Charles I mà đưa ông ta ra xử công khai ở tòa án, tuyên bố tội trạng của ông ta là không trung thành với đất nước và nhân dân, rồi xử tử hình. Đương thời châu Âu cho rằng nhân dân Anh tán thành dân quyền nên dân quyền có thể phát triển, chẳng ai ngờ nhân dân Anh vẫn hoan nghênh quân quyền mà không hoan nghênh dân quyền. Charles I tuy đã chết, nhân dân vẫn luyến tiếc nhà vua. Chưa đầy 10 năm sau ở Anh đã phục hồi chế độ quân chủ, đón Charles II về nước làm hoàng đế. Việc này xẩy ra khi Mãn Thanh qua cửa ải, triều Minh vẫn chưa tiêu vong, chỉ cách hiện nay trên 200 năm. Vậy là cách đây trên 200 năm, nước Anh đã một lần xuất hiện nền chính trị dân quyền, nhưng chẳng bao nó lại bị tiêu diệt. Điều đó chứng tỏ quân quyền vẫn rất thịnh. Sau đấy 100 năm, nước Mỹ làm cách mạng, giành độc lập, tách khỏi nước Anh, thành lập chính phủ Liên bang Hoa Kỳ. Từ bấy đến nay đã được 150 năm. Đây là nước đầu tiên trên thế giới thực hiện dân quyền. Nước Mỹ thiết lập nền Cộng hòa chưa đầy 10 năm thì xẩy ra Cách mạng Pháp. Tình hình cách mạng Pháp lúc bấy giờ là: vua Louis XIV thâu tóm chính quyền, thực hành chuyên chế, nhân dân rất thống khổ. Con cháu y nối ngôi càng bạo ngược vô đạo, nhân dân chịu không nổi, do đó tiến hành cách mạng, giết chết Louis XVI. Nhân dân Pháp giết Louis XVI cũng giống như nhân dân Anh giết Charles I: đưa y ra xử công khai ở tòa án, tuyên bố y có tội không trung thành với đất nước và nhân dân. Sau khi hoàng đế Pháp bị giết, các nước châu Âu báo thù cho y, gây ra chiến tranh suốt hơn 10 năm. Cách mạng Pháp lần này thất bại, đế chế lại phục hồi. Nhưng tư tưởng dân quyền của nhân dân Pháp từ đó càng phát triển.

Nói đến lịch sử dân quyền, mọi người đều biết nước Pháp có một vị học giả tên là Rousseau. Rousseau là người chủ trương dân quyền cực đoan ở châu Âu, và tư tưởng dân quyền của ông đã đẻ ra Cách mạng Pháp. Tác phẩm quan trọng nhất cả đời Rousseau về tư tưởng dân quyền là cuốn Khế ước xã hội. Căn cứ lập luận trong tác phẩm Khế ước xã hội là: từ khi sinh ra người ta đã có quyền Tự do và Bình đẳng, đó là quyền trời phú cho con người nhưng sau đó người ta đã để mất nó. Như vậy, theo cách lập luận của ông thì có thể nói dân quyền là do trời sinh ra. Nhưng xét theo logic tiến hóa lịch sử thì dân quyền không do trời sinh ra mà do thời thế và trào lưu tạo thành. Xem xét lịch sử tiến hóa, ta không thấy có trên thực tế thứ dân quyền mà Rousseau nói. Luận thuyết của Rousseau, vì vậy, không có căn cứ. Những người phản đối dân quyền lấy những lời nói không có căn cứ của Rousseau làm tài liệu cho lập luận của họ. Nhưng khi chủ trương dân quyền, chúng ta không cần thảo luận trước về nó, bởi vì logic trong vũ trụ là: phải có thực tế trước, sau đó người ta mới bàn về nó, chứ không phải là bàn luận trước rồi sau đó mới xẩy ra sự việc…

Lý luận mà Rousseau trình bày trong Khế ước xã hội, rằng dân quyền là do trời cho, đã xung đột với nguyên lý tiến hóa lịch sử. Vì thế những người phản đối dân quyền liền dùng câu nói đó của Rousseau làm căn cứ phê phán. Rousseau nói dân quyền là trời cho, điều đó vốn không hợp lý, nhưng những người phản đối ông dùng câu nói không có căn cứ của ông để phản đối dân quyền, việc đó cũng không hợp lý. Muốn nghiên cứu chân lý trong vũ trụ, trước hết chúng ta phải dựa vào thực tế chứ không thể chỉ dựa vào luận thuyết của các học giả.

Luận thuyết của Rousseau không có căn cứ, tại sao lúc bấy giờ các nước vẫn hoan nghênh? Và tại sao Rousseau lại có thể đưa ra luận thuyết đó? Bởi vì khi đó Rousseau nhìn thấy trào lưu dân quyền đã tràn đến, nên ông chủ trương dân quyền. Chủ trương dân quyền của Rousseau hợp với tâm lý nhân dân lúc bấy giờ nên nhân dân chào đón nó. Luận thuyết của Rousseau tuy xung đột với logic tiến hóa lịch sử, nhưng tình hình chính trị đương thời đã có những thực tế của chế độ dân quyền, do đó tuy lập luận của ông là sai lầm, nó vẫn được mọi người hoan nghênh. Còn ý tưởng ban đầu về dân quyền do Rousseau đề xướng, thì đó là đóng góp to lớn chưa hề có trong lịch sử cho học thuyết chính trị trên thế giới, từ khi có lịch sử, do trào lưu và hoàn cảnh mỗi thời đại mỗi khác nên quyền lực chính trị không thể không khác nhau. Thí dụ ở thời đại thần quyền, không thể không dùng thần quyền; ở thời đại quân quyền, không thể không dùng quân quyền. Ở Trung Quốc, đến thời Tần Thủy Hoàng có thể nói quân quyền đã phát triển đến cực điểm, nhưng các thể chế quân chủ sau đó vẫn học ông ta, dù quân quyền lớn đến thế nào, nhân dân vẫn rất hoan nghênh. Hiện nay trào lưu thế giới đã đến thời đại dân quyền, chúng ta cần nhanh chóng nghiên cứu về nó…

Leave a Reply

Please log in using one of these methods to post your comment:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s