Tự do Internet: Từ góc nhìn toàn cầu

ỦY BAN NHÂN QUYỀN VIỆT NAM TRÂN TRỌNG GIỚI THIỆU:

Tự do Internet: Từ góc nhìn toàn cầu

Tạp chí Điện tử của Chương trình Thông tin Quốc tế, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, tháng 6/2010

Daniel Calingaert và Sarah Cook

Theo báo cáo của một tổ chức phi chính phủ hàng đầu, dù Internet mang lại cho người dân cơ hội rất lớn để thể hiện quan điểm của họ, nhiều chính phủ vẫn đang tìm cách khống chế về nội dung và việc truy cập Internet.

Daniel Calingaert là Phó Giám đốc phụ trách chương trình tại Freedom House, một tổ chức phi lợi nhuận đuợc tài trợ bởi Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, Google và các nguồn khác để khuyến khích tự do Internet. Sarah Cook là một chuyên gia phân tích nghiên cứu chuyên về châu Á. Cô là trợ lý biên tập cho ấn phẩm phát hành năm 2009 “Freedom on the Net (Tự do trên mạng)”.

Những năm gần đây, khả năng tiếp cận những công nghệ trực tuyến bùng nổ đã tăng theo cấp số nhân. Cùng với đó, Internet cũng giúp gia tăng đáng kể cơ hội tiếp cận nguồn thông tin phong phú từ dư luận, đưa ra ánh sáng các vụ lạm dụng chức quyền cũng như thúc đẩy các hoạt động của công dân. Internet đã cung cấp không gian rộng hơn cho tự do ngôn luận tại các quốc gia dân chủ cũng như tại các nước vẫn còn bị hạn chế về các phương tiện truyền thông như báo in và phát thanh truyền hình truyền thống. Trước thực trạng đó, chính phủ nhiều nước cũng đã đưa ra các biện pháp để kiểm soát, điều phối và kiểm duyệt nội dung của các blog, trang web và các tin nhắn. Sự phát triển của những biện pháp kiểm soát này đã làm dấy lên một số câu hỏi như: những mối đe dọa chính đối với tự do Internet là gì? Liệu Internet có mang lại tự do cho những người bị đàn áp, hay trái lại, lại bị kiểm soát để củng cố thêm sức mạnh của bộ máy đàn áp? Liệu Internet có bị hạn chế tại các nước dân chủ hay những rào cản đối với tự do trên phương tiện truyền thông số cũng đang phát triển tại các nước đó?

Freedom House đã vào cuộc để tìm câu trả lời cho những câu hỏi đó. Freedom on the ‘Net (Tự do trên Internet), một cuộc khảo sát do tổ chức này thực hiện, đã xếp hạng cấp độ tự do Internet tại 15 quốc gia tại bốn lục địa với nhiều môi trường pháp lý khác nhau, từ tự do đến hà khắc. Theo kết quả của cuộc khảo sát, những nguy cơ làm giảm tự do Internet đang gia tăng và phát triển đa dạng, thể hiện ở cả loại hình các quốc gia áp dụng lẫn phương pháp áp dụng các biện pháp kiểm soát.

Các nhà cầm quyền độc đoán đã hiểu được sức mạnh của Internet và đang tích cực giảm bớt tác động của nó. Một vài chính phủ áp chế tại các nước như Cuba chỉ cho phép một bộ phận nhỏ dân cư có thể truy cập Internet. Có rất ít điểm truy cập Internet và phí dịch vụ gần như nằm ngoài tầm với của đa số người dân.

Những nhà cầm quyền tại các nước khác như Trung Quốc, Iran và Tunisia, dù rất tích cực khuyến khích việc sử dụng Internet để kích thích đổi mới và tăng trưởng kinh tế nhưng lại đặt ra hàng loạt các quy định kiểm soát các phương tiện truyền thông số nhằm ngăn chặn việc tận dụng các phương tiện này của những người chỉ trích chính phủ. Các thể chế này vẫn tiếp tục duy trì những hệ thống kiểm duyệt, kiểm soát đa tầng rộng khắp nhằm bóp nghẹt đối kháng hay phơi bày các tệ nạn như tham nhũng trên mạng. Họ đặt ra các giới hạn khắt khe về nội dung người dân có thể truy cập, đăng tải trên mạng hoặc gửi qua điện thoại di động. Tình trạng giám sát các trao đổi qua điện thoại và Internet rất phổ biến và nếu ai đó dám phê phán chính phủ trên Internet sẽ phải đối mặt với nhiều phiền toái, bỏ tù hoặc thậm chí là tra tấn.

Tại những nước mà mức độ áp chế thấp hơn, ví dụ như Hy Lạp, Malaysia và Nga, Internet đã trở thành nơi hội tụ của những bài phát biểu tương đối tự do trong môi trường truyền thông ít bị hạn chế khác. Tuy nhiên, không gian tự do ngôn luận đang dần bị thu hẹp vì các chính phủ lại nghĩ ra những biện pháp tinh vi hơn để quản lý việc trao đổi trực tuyến, cũng như áp dụng một cách hữu ý những bộ luật không rõ ràng về an ninh để đe dọa và bắt giữ các thành phần đối kháng. Điều này vô hình chung đã tạo ra tâm lý tự kiểm duyệt trong giới nhà báo và các nhà phê bình.

Thậm chí ngay cả với các nước dân chủ hơn như Vương quốc Anh, Brazil và Thổ Nhĩ Kỳ, tự do Internet cũng đang bị mất dần do rào cản luật pháp, những quy trình sàng lọc không rõ ràng và việc mở rộng tầm kiểm soát.

Web 2.0

Tiếp theo sự gia tăng về số lượng người dùng Internet theo cấp số nhân từ năm 2000, sự xuất hiện của thế hệ Web 2.0 và sự phát triển mạnh mẽ của các mạng xã hội trực tuyến đã cho phép người bình thường cũng có thể tạo và phổ biến thông tin. Trong khi các phương tiện truyền thống truyền bá thông tin theo chiều dọc thì những ứng dụng Web 2.0 giúp phát tán thông tin theo chiều ngang, và vì thế ảnh hưởng sâu sắc đến cách chúng ta trao đổi thông tin.

Hàng chục triệu dân thường trên khắp thế giới đã trở thành những người xuất bản và truyền bá thông tin. Họ viết báo; quay video; điều tra các vấn đề nhạy cảm; bình luận về các chủ điểm chính trị, xã hội và các chủ đề khác. Ở những nước áp chế các phương tiện truyền thông, các blogger thường đi tiên phong trong nỗ lực đẩy lùi những giới hạn đối với tự do ngôn luận. Những ứng dụng Web 2.0 không chỉ khuyến khích tự do bày tỏ quan điểm độc lập mà còn khuyến khích cả việc tự do lập hội. Những ứng dụng này tạo điều kiện cho các cuộc thảo luận và tương tác giữa các cá nhân diễn ra mà không gặp phải rào cản nào về vị trí địa lý. Chúng tạo nên các cộng đồng dân cư trực tuyến có cùng sở thích cũng như khiến cho việc truyền bá thông tin trở nên nhanh chóng. Vì vậy mà các phương tiện truyền thông số đã được sử dụng rộng rãi trong các hoạt động dân sự. Ở Kenya, các nhà hoạt động đã phát động một chương trình mang tên Ushahidi trong vụ bùng nổ bạo lực sắc tộc hậu bầu cử năm 2007. Chương trình này liệt kê các sự cố bằng cách sử dụng các tin nhắn từ điện thoại di động của người dân và đăng trên một bản đồ để theo dõi các sự kiện đang xảy ra. Chương trình sau đó được áp dụng lại trong các sự kiện đình đám khác như trong các cuộc bầu cử tại Ấn Độ, các cuộc chiến tại dải Gaza và cứu trợ động đất ở Haiti.

Internet cung cấp không gian lớn hơn để người dùng tự do biểu đạt so với các phương tiện truyền thông truyền thống nhờ vào cấu trúc lan tỏa phẳng ít tầng bậc. Kết quả cuộc khảo sát Freedom of the Press (Tự do báo chí) của Freedom House khi sử dụng cùng một thang đánh giá cho thấy, ngoại trừ một trường hợp ngoại lệ, còn lại tất cả 14 quốc gia tham gia cuộc khảo sát Tự do trên Internet đều có mức độ tự do Internet cao hơn so với các phương tiện truyền thông nói chung. Sự khác biệt về thứ hạng giữa tự do Internet và tự do trên các phương tiện truyền thông truyền thống chủ yếu tập trung ở các nước xếp hạng “tự do một phần”.

Trấn áp 2.0

Với bản chất cấu trúc lan tỏa phẳng ít tầng bậc, mạng Internet không những trao quyền cho người dân theo những cách thức mà phương tiện truyền thông truyền thống không thể làm được mà còn khiến luồng thông tin trở nên khó kiểm soát hơn. Mặc dù vậy, các chính quyền độc tài vẫn nỗ lực hạn chế hoạt động truyền thông ngang và cản trở hoạt động phổ biến các thông tin trái chiều ở trong nước. Cho dù mục đích chính là nhằm bịt miệng các nhà phê bình trong nước và ngăn chặn sự trỗi dậy của các lựa chọn chính trị thay thế, nhưng hoạt động kiểm soát được thiết lập để đạt được mục tiêu này tất yếu mang tính xâm phạm nhiều hơn và ảnh hưởng trực tiếp tới nhiều người hơn so với những hạn chế đối với các phương tiện truyền thông truyền thống.

Một số quốc gia đã phát triển hàng loạt các biện pháp kiểm duyệt và giám sát để hạn chế tự do Internet:

• Việc truy cập các ứng dụng Web 2.0 như mạng xã hội Facebook và YouTube đều bị chặn vĩnh viễn hoặc tạm thời. Hoạt động ngăn chặn này thường được thực hiện quanh thời gian diễn ra các sự kiện cụ thể. Chính quyền Trung Quốc đã áp dụng biện pháp này trong thời gian bất ổn tại Thiên Tân năm 2009. Myanmar cắt toàn bộ hoạt động truy cập mạng Internet toàn cầu trong trong một số ngày của năm 2007 sau vụ đàn áp bạo lực đối với người biểu tình hòa bình trong cuộc “Cách mạng Saffron”. Iran cấm sử dụng  sử dụng dịch vụ Internet băng thông rộng tại nhà và tại các quán cà phê.

• Việc kiểm duyệt bằng biện pháp kỹ thuật được các nhà cung cấp dịch vụ Internet (ISP) thực hiện nhằm ngăn chặn việc truy cập một số bài báo hoặc trang web cụ thể trên mạng. Nếu được sử dụng một cách rộng rãi, các phương tiện kiểm duyệt có thể “chặn đứng” một cách hiệu quả các luồng thông tin. Mục tiêu của các phương tiện kiểm duyệt có thể là các từ khóa, đặc biệt các địa chỉ web nhất định hoặc toàn bộ tên miền. Theo tổ chức Open Net Initiative, có ít nhất 25 quốc gia kiểm duyệt các nội dung Internet ở một mức độ nhất định.

• Người kiểm duyệt giám sát và tự tay gỡ bỏ các bài viết được tải lên các trang nhật ký cá nhân trực tuyến (blog). Họ đóng cửa hoạt động của các diễn đàn thảo luận trực tuyến bàn về các chủ đề bị cấm như vi phạm nhân quyền, phê bình các chính khách hay hiện tượng tham nhũng của các quan chức. Các chính quyền, chẳng hạn như Nga hoặc các quốc gia khác, bí mật gọi điện gây áp lực cho các blogger hoặc người quản lý máy chủ các trang web phải gỡ bỏ một số nội dung nhất định.

• Thay vì phụ thuộc hoàn toàn vào các biện pháp can thiệp trực tiếp của các cơ quan chức năng nhà nước, một số chính quyền ngày càng có xu thế “thuê ngoài” các công ty tư nhân thực hiện các hoạt động kiểm duyệt và theo dõi – các công ty này gồm các nhà cung cấp dịch vụ Internet, các công ty sở hữu máy chủ blog, các cửa hàng Internet và nhà khai thác mạng di động. Các công ty có nguy cơ bị phạt hoặc tịch thu giấy phép kinh doanh nếu họ không kiểm duyệt các nội dung về chính trị, không kiểm soát các hoạt động trên Internet hay không thu thập dữ liệu về người dùng Internet. Người dùng phải đăng ký với nhà cung cấp dịch vụ Internet khi họ đăng ký đường truyền tại nhà hoặc tại cơ quan, vì vậy mà họ không thể ẩn danh khi truy cập Internet.

• Một số chính phủ trả công cho các bình luận viên mật theo đường lối ủng hộ chính quyền hoặc các trang web hoạt động bằng ngân sách nhà nước để tạo ảnh hưởng trên các diễn đàn trực tuyến. Chính phủ Trung Quốc thuê khoảng 250.000 nhà bình luận thuộc “đội quân 50 xu”. Theo các nguồn thông tin thì những người này nhận được 50 xu tiền Trung Quốc cho mỗi bài viết ủng hộ chính quyền.

• Các chính phủ độc tài sử dụng các luật về báo chí chống lại việc nhạo báng, phỉ báng, tiết lộ bí mật quốc gia… để trừng phạt những người chống đối chính phủ trực tuyến. Cuba đã khởi tố các nhà báo mạng theo các tội danh chung chung như “đối tượng nguy hiểm đối với xã hội nhưng chưa phạm tội”. Trung Quốc đã ban hành trên 80 nghị định điều chỉnh trực tiếp các vấn đề liên quan tới Internet và tuyên phạt các án tù nặng nhất trên thế giới với các tội xâm phạm qua mạng, thường từ ba đến mười năm tù. Nhiều vụ khởi tố các cũng đã diễn ra ở Tunisia, Iran, Syria, Ai Cập và Malaysia, các lý do thường xuyên được viện dẫn là nhạo báng lãnh đạo nhà nước hoặc đạo Hồi. Theo Ủy ban Bảo vệ Nhà báo, năm 2008 chứng kiến lần đầu tiên có nhiều nhà báo mạng bị bắt giam hơn các nhà báo truyền thống, hoặc do bị khởi tố theo đúng trình tự pháp lý hoặc bị giam giữ bất hợp pháp.

• Nếu không bị giam giữ, các blogger và các nhà báo mạng thường bị đe dọa bằng các biện pháp như giám sát liên tục 24 giờ, quấy rối, bắt giữ vô cớ và thậm chí là tra tấn. Ai Cập có môi trường Internet tương đối mở, nhưng chính quyền nước này nhằm vào mục tiêu là phạt một số các nhân vật nổi bật để làm gương và tạo tâm lý sợ hãi trong giới đồng nghiệp của họ.

• Blog và các trang web bị phá hoại hoặc là mục tiêu của các vụ tấn công từ chối dịch vụ, khiến trang web bị gián đoạn hoặc ngừng hoạt động toàn bộ. Một ví dụ là vào lễ kỷ niệm lần thứ nhất cuộc Cách mạng Saffron tại Myanmar, các trang tin tức độc lập có máy chủ tại Thái Lan như Irrawaddy và New Era đã trở thành mục tiêu của các cuộc tấn công trên mạng.

Freedom House xếp hạng “không tự do” đối với các nước kiểm soát gắt gao nhất, như Trung Quốc, Iran và Tunisia do các nước này đã sử dụng tất cả các biện pháp áp chế để kiểm soát Internet. Những nước này đã xây dựng các hệ thống tinh vi nhiều tầng để kiểm soát luồng thông tin trực tuyến.

Các quốc gia khác như Ai Cập, Malaysia và Nga đều cho phép tự do trực tuyến ở mức độ đáng kể nhưng đang hướng đến việc kiểm soát gắt gao hơn. Các quốc gia này khuyến khích việc mở rộng truy cập Internet và ít khi trực tiếp chặn các hoạt động bày tỏ ý kiến trực tuyến, mặc dù các phương tiện truyền thông truyền thống lại bị hạn chế ngặt nghèo hơn. Tuy nhiên, tại các quốc gia này, sự ảnh hưởng của nhà nước đến các nội dung trên mạng được thể hiện một cách tinh vi hơn thông qua các biện pháp xử lý chủ động hoặc bí mật gây áp lực, trấn áp người dân không cho vận động trực tuyến và phạt nặng các nhà phê bình trên mạng. Freedom House xếp hạng các quốc gia này ở mức độ “tự do một phần”.

Tự do và hạn chế Internet trong các nền dân chủ

Các quốc gia được xếp hạng “tự do” trong nghiên cứu “Tự do trên mạng” bao gồm Estonia (quốc gia xếp hạng cao nhất trong mẫu xếp hạng thí điểm), Vương quốc Anh, Nam Phi và Brazil. Tất cả các quốc gia này có môi trường nhìn chung cởi mở đối với các phương tiện truyền thông mới. Chính phủ không hoặc ít ngăn cản hoạt động truy cập và có mức độ kiểm soát thấp đối với nội dung thông tin, cũng như tình trạng vi phạm quyền của người sử dụng ít diễn ra. Các nền dân chủ cũng có khả năng “tự sửa sai” nếu công chúng phát hiện có hành vi hạn chế tự do Internet. Tại Thổ Nhĩ Kỳ, Quốc hội đã mở một cuộc điều tra các hoạt động kiểm soát của các cơ quan hành pháp sau khi một loạt bê bối diễn ra.

Ngay cả trong các môi trường tương đối tự do này, vẫn xuất hiện các mối quan ngại.

Tại Brazil, các quyết định của cơ quan tư pháp đã khiến cho tình trạng kiểm duyệt nội dung ngày càng trở thành mối đe dọa. Mạng YouTube thường xuyên bị chặn. Trang này cũng bị chặn ở Thổ Nhĩ Kỳ. Ở Vương quốc Anh và Thổ Nhĩ Kỳ, các quyết định kiểm duyệt được đưa ra một cách thiếu minh bạch, ngay cả khi thông tin mục tiêu chủ yếu là một số lượng nhỏ các nội dung được xác định cụ thể như hình khiêu dâm trẻ em. Danh sách các trang web bị chặn không được công khai hoặc không được kháng lại các quyết định kiểm duyệt đã khiến các thông tin kinh tế và chính trị quan trọng có nguy cơ bị hạn chế.

Sự phản đối của người dân 

Mặc dù ngày càng có nhiều mối đe dọa và kiểm soát, người dân ở các quốc gia thậm chí có môi trường Internet bị giới hạn cao đã tìm ra những cách sáng tạo để viết và phổ biến thông tin. Tại Cuba, trước những kiểm soát ngặt nghèo đối với việc truy cập, người dân đã chia sẻ các nội dung tải về bằng các con đường ngoại tuyến, thường bằng USB, một hiện tượng được gọi là “kết nối ngoài”. Tại Trung Quốc, những người dân Tây Tạng, người Hồi giáo Uighur và người theo Pháp Luân Công bị quấy rầy đã sử dụng các phương tiện kỹ thuật số để gửi các tài liệu về những hành động tra tấn ra nước ngoài, trong khi trong nước họ thách thức cỗ máy tuyên truyền của Đảng Cộng Sản thông qua hệ thống các blog và đĩa DVD bí mật. Tại Tunisia, blog NormalLand đã xây dựng một quốc gia ảo với một nhà lãnh đạo ảo cùng với các vị trị khác trong chính phủ do các blogger khác trong nước đảm nhận để thảo luận các vấn đề chính trị của nước này.

Người dân cũng có thể sử dụng Internet và điện thoại di động để tiến hành các hoạt động chống lại chính việc kiểm duyệt. Năm 2009, các cư dân mạng của Trung Quốc đã tổ chức các cuộc phản kháng trực tuyến trước kế hoạch đưa phần mềm kiểm duyệt Green Dam Youth Escort vào ứng dụng. Sự chỉ trích từ trong nước – thể hiện qua các công cụ mạng xã hội và kiến nghị trực tuyến – cùng với những áp lực từ nước ngoài đã thuyết phục được Chính phủ Trung Quốc hoãn việc sử dụng phần mềm này trên diện rộng.

Ý nghĩa rộng hơn về chính trị của các hoạt động tuyên truyền trực tuyến đặc biệt rõ nét tại những môi trường Internet “tự do một phần”. Tại Ai Cập, trang Facebook mang tên “Elbaradei tranh cử tổng thống” đã thu hút trên 235.000 thành viên chỉ trong vòng khoảng 5 tháng. Tháng 3 năm 2008, các đảng phái chính trị đối lập tại Malaysia đã tiến hành phần lớn các hoạt động trong chiến dịch vận động tổng tuyển cử của mình thông qua các phương tiện truyền thông kỹ thuật số – bao gồm cả blog, YouTube và SMS (dịch vụ nhắn tin qua điện thoại). Các phương tiện này đã đóng góp vào thắng lợi chưa từng có tại các điểm bỏ phiếu.

Kết luận

Các công nghệ truyền thông số hứa hẹn luồng thông tin chất lượng cao hơn và tăng cường sự tham gia cũng như hoạt động của người dân và cuối cùng tạo cho chất lượng cuộc sống được nâng cao, tự do được mở rộng. Tuy nhiên, thông tin từ cuộc nghiên cứu thí điểm về Tự do trên mạng chỉ ra rằng chúng ta không nên xem xu thế này là điều tất yếu. Cùng với việc tổ chức Freedom House thực hiện nghiên cứu thứ hai với 37 quốc gia để công bố vào năm 2011, điều này đã trở nên hiển nhiên hơn. Từ Kazakhstan và Belarus, cho tới Australia, các điều luật hạn chế mới đã được thông qua hoặc đang được xem xét.

Các cư dân mạng và những người ủng hộ cho họ tại các quốc gia dân chủ cần có các nỗ lực tích cực để đối phó với những hạn chế dưới nhiều hình thức đối với tự do trực tuyến. Trong một thế giới kỹ thuật số đang thay đổi nhanh chóng, những người ủng hộ tự do ngôn luận phải đi đầu trong việc bảo vệ và tăng cường tự do Internet.