DÂN CHỦ VÀ KINH TẾ THỊ TRƯỜNG: MÂU THUẪN VÀ BẾ TẮC ?

dân chủ và KT TTNgười ta thường tin tưởng rằng dân chủ và kinh tế thị trường có tác dụng hỗ tương, đặc biệt là kinh tế thị trường giúp cho sự hình thành của dân chủ, và dân chủ là yếu tố cần thiết cho sự phát triển của kinh tế thị trường. Thật ra, bên dưới những khía cạnh hợp tác trên bề mặt (1), ở trong chiều sâu, dân chủ và kinh tế thị trường cónhững mâu thuẫn nền tảng.

Dân chủ (trong bài này dân chủ có nghĩa là dân chủ nghị trường), trong sự hoạt động của nó, cần đến những cấu trúc lệ thuộc vào một biên giới rõ ràng, thông thường nhất là biên giới quốc gia. Thị trường, ngược lại, không biết đến ranh giới. Môi trường hoạt động của nó rốt rào là toàn cầu. Những quyết định của thị trường có thể mâu thuẫn với những quyết định dân chủ của người dân một quốc gia. Thị trường có thể áp đặt quy luật của mình trên luật lệ an sinh xã hội, luật lao động, luật tài chánh, thuế khóa, hối đoái v.v… của một quốc gia. Áp lực của thị trường có khuynh hướng ngày càng gia tăng. Ảnh hưởng điều chế của dân chủ trên áp lực của thị trường thì, ngược lại, có khuynh hướng ngày càng suy giảm, ngay cả tại các nước tiền tiến. Một chính phủ hữu khuynh hay tả phái tại Pháp, Đức, Ý, hay Tây Ban Nha, rốt cuộc cũng vẫn phải chọn một con đường thực tế, tức là phù hợp với những đòi hỏi của thị trường tự do trong cái thế toàn cầu không thể tránh được.

Mặt khác, dân chủ hướng đến đồng thuận, trong khi kinh tế thị trường trong bản chất là cuộc chiến của mọi người chống lại mọi người, để tranh thủ lợi nhuận và để sống còn. Dân chủ tìm sự điều tiết, tìm con đường trung hòa, trong khi kinh tế thị trường tìm sự phát triển không hạn chế càng nhanh càng tốt. Đình trệ, đối với một công ty, là bước đầu của suy thoái, và suy thoái, là con đường dẫn đến tiêu diệt. Lý tưởng của dân chủ là quyền lợi của đại đa số, trong khi bản chất của kinh tế thị trường đưa đến việc tập trung lợi nhuận vào tay một số người càng ngày càng thu hẹp. Thật vậy, hai trăm hai mươi lăm người giàu có nắm giữ hơn phân nửa lợi nhuận của toàn nhân loại. Trong một thể chế dân chủ, con người là mục tiêu cuối cùng của tất cả, trong khi lý luận của kinh tế thị trường cho con người chỉ là công cụ của sản xuất và tiêu thụ, là guồng máy điều tiết sự tiêu thụ hàng hóa đồng thời cũng chính là hàng hóa. Những giá trị rất được tôn quý của con người, như nghệ thuật, tôn giáo, và ngay cả y tế, trong kinh tế thị trường cũng rơi vào khuôn khổ của hàng hóa. Chúng ta có thể tiếp tục nêu lên nhiều mâu thuẫn tương tự giữa dân chủ và kinh tế thị trường …

DÂN CHỦ VÀ KINH TẾ THỊ TRƯỜNG TRƯỚC CÁC VẤN NẠN CỦA THỜI ĐẠI :

1) ĐỐI KHÁNG VỚI THIÊN NHIÊN

Chúng ta đang đứng trước những nguy cơ có thể đưa đến sự sụp đổ của xã hội con người. Trữ lượng dầu hỏa chỉ còn 40 năm, khí đốt 70 năm, uranium 55 năm. Hàng năm diện tích rừng bị phá hủy rộng bằng gần nửa diện tích của nước Việt Nam . Mỗi ngày từ 100 đến 300 giống sinh vật biến mất trên mặt địa cầu, trong khi giống người càng lúc càng bị đe dọa bởi những ô nhiễm do chính mình tạo ra. Sự đối kháng giữa con người với thiên nhiên sẽ đưa đến sự hủy diệt loài người.

2) ĐỐI KHÁNG GIỮA CON NGƯỜI VÀ CON NGƯỜI

Bên cạnh đó, là sự đối kháng giữa con người với con người. Mỗi 4 giây đồng hồ có một người chết đói (Assoc.Action Contre la Faim – 17/10/2004). 1,3 tỷ người có dưới 1 MK lợi tức mỗi ngày. 2,6 tỷ không có được những phương tiện vệ sinh căn bản. 1 tỷ người không có nhà cửa đúng nghĩa. 1,3 tỷ người không có nguồn nước sạch. 880 triệu người không với đến được những cấu trúc y tế. 840 triệu người thiếu ăn trầm trọng. Trong khi đó mức tiêu thụ toàn cầu tăng lên gấp 6 lần từ thập niên 50 cho đến cuối thập niên chín mươi. 86 % của sự tiêu thụ ấy đến từ 20 % người giàu. Những người này chiếm hữu 58 % năng lượng trên thế giới, trong khi 20 % người nghèo nhất chỉ sử dụng có 4 % năng lượng. Hai mươi phần trăm người giàu nhất tiêu thụ 45 % thịt và cá đối với 5 % thịt cá tiêu thụ bởi 20 % người nghèo. Ba người giàu nhất trên thế giới có tài sản cao hơn tổng sản lượng của 48 quốc gia nghèo nhất. Để đạt được chỉ tiêu giáo dục cơ bản nhất cho các nước nghèo, cần khoảng 6 tỷ MK ngân sách phụ trội cho ngân sách hiện có. Số tiền ấy chưa bằng tiền túi của trẻ em Pháp (7 tỷ MK 1 năm, 1/3 tổng sản lượng quốc gia của Việt Nam) và bằng một nửa số tiền người Hoa Kỳ và Âu Châu dùng để mua dầu thơm mỗi năm. Để đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng cho dân nghèo trên thế giới chỉ cần khoảng 13 tỷ MK mỗi năm, trong khi số tiền nuôi súc vật trong nhà tại Âu Châu và Hoa Kỳ là 17 tỷ MK một năm. Chi phí y khoa cho một người Mỹ là 4887 PPA (parité de pouvoir d’achat) sánh với 134 cho 1 người Việt Nam và 14 cho 1 người Ethiopa (tỷ lệ 3 phần ngàn). Các nước giàu sử dụng lợi khí quảng cáo (435 tỷ MK một năm) bán cho các nước nghèo những vật phẩm mà họ chưa lường nổi mối nguy hại, như một số loại thuốc trừ sâu, không kể thuốc lá (Hoa Kỳ bán cho Á Châu 150 tỷ MK thuốc lá mỗi năm). Trong 20 năm, tỷ lệ tiêu thụ thuốc lá giảm 10 % ở các nước giầu và tăng 64 % ở các nước nghèo : số người Trung Hoa hút thuốc tăng gấp ba lần, số người Indonesia tăng gấp đôi … (phúc trình Chương Trình Phát Triển Liên Hiệp Quốc).

Người ta thường nghĩ các nước giàu giúp tiền cho các nước nghèo. Sự thực là ngược lại : các nước nghèo phải trả cho các nước giàu khoảng 250 000 MK mỗi phút, do tiền lời của những món nợ khổng lồ không bao giờ trả nổi số vốn. Áp lực tài chánh kinh khủng này khiến các nước nghèo sãn sàng bán tất cả những gì họ có, sẵn sàng chấp nhận ô nhiễm và các tai họa mội sinh (thí dụ khi phá rừng), sẵn sàng chuyển hướng canh tác sang các hoa màu có thể xuất cảng được (thí dụ cà phê) thay vì những hoa màu đem lại thực phẩm nuôi dân, sẵn sàng chấp nhận những điều kiện thiệt thòi trên khía cạnh con người để thu hút vốn đầu tư, để liên doanh hay hợp doanh với các công ty ngoại quốc. Thậm chí những món tiền trợ cấp hay cho vay đến từ các nước giàu lại thường rơi trở vào tay các đại công ty của chính các nước này. Nhiều màn « xóa nợ » cũng không ra ngoài mô thức ấy (2) .

Cùng lúc ấy, những nước giàu như Hoa Kỳ lại xây dựng sức mạnh của mình, kể cả sức mạnh quân sự vô địch, trên những món nợ khổng lồ không kém, tức trên sự đóng góp của tất cả người dân của các quốc gia cho Hoa Kỳ vay tiền, cùng với những người dân trực tiếp hay gián tiếp sử dụng đồng Mỹ Kim trong việc mua bán, trao đổi, tức hầu hết con người trên thế giới …

Áp lực của nạn thất nghiệp cũng vô cùng nặng nề. Giữa năm 1993 và năm 2003, số người thất nghiệp trên thế giới tăng từ 140,4 triệu người lên 186 triệu người, theo phúc trình cũa ILO (International Labour Organization) thuộc Liên Hiệp Quốc. Đây là con số cao nhất chưa bao giờ đạt tới. Ngay cả trong vùng Đông Á với những chỉ số phát triển cao nhất thế giới, số người thất nghiệp cũng gia tăng. Tỷ số thất nghiệp tại Đông Nam Á là 3,9% năm 1993 và 6,3% năm 2003. Áp lực thất nghiệp đưa đến những nhân nhượng của các nước nghèo trên khía cạnh luật lao động, luật an sinh xã hội, trong việc kềm chế đồng lương, trong việc đè nén các cấu trúc cần thiết để bảo vệ quyền lợi của người làm công. Những nhân nhượng không được điều tiết như thế khiến cho tình trạng xã hội tại các nước này rất dễ bùng nổ. Chỉ cần một cuộc khủng hoảng sâu rộng, không thể tránh được trong các chu kỳ kinh tế, là người ta có thể chứng kiến những rối loạn lớn, như lời tiên đoán của Bernanos : « bước chân người nghèo sẽ làm rung chuyển địa cầu ». Thật ra, không cần những cuộc khủng hoảng mạnh mẽ, mà chỉ cần ý thức được rằng tình trạng chênh lệch nặng nề hiện tại không có hy vọng quân bình lại được, đủ khiến cho người dân tại các vùng nghèo khổ có khuynh hướng quy tụ nhau lại trong các ý thức hệ của quá khứ, như niềm tin tôn giáo hay dân tộc chủ nghĩa quá khích, để kình chống lại các nước giàu, với những phương tiện nhà nghèo, như chúng ta hiện thấy qua nạn khủng bố tràn lan. Một trong những hậu quả có thể lường trước của sự phân tranh này là sự cô lập, hay tự cô lập, của các nước giàu có, một chiều hướng hoàn toàn mâu thuẫn với khuynh hướng « toàn cầu hóa » cần thiết cho kinh tế thị trường. Những ốc đảo giàu có sẽ được vây quanh bởi những hàng rào bảo vệ càng ngày càng mọc cao trước đám dân nghèo vây quanh tìm cách xông vào dành dựt vài mảnh vụn hàng hóa, vài vật phẩm tiêu thụ thừa thãi (3) !

3) HUỶ DIỆT GIÁ TRỊ NHÂN BẢN CỦA CUỘC SỐNG

Thật ra, ngay cả trong các nước giàu, ảnh hưởng của kinh tế thị trường càng gia tăng thì con người lại càng nghèo đi, không nhất thiết là trên phương diện tài chánh, như tại các quốc gia không giải quyết nổi nạn thất nghiệp, mà trên phương diện tinh thần. Đời sống trở nên vô vị, số người tự tử, khủng hoảng tâm thần, đầu óc căng thảng, gia tăng đều đặn, cùng với sự sụp đổ của các giá trị nền tảng. Con người mất mọi niềm tin, sống ích kỷ trên bờ sự chết như một vực sâu không đáy. Trên bờ vực thẳm ấy, con người chỉ còn cảm giác hư vô như thực tại duy nhất … Những hàng hóa chồng chất đầy nhà đầy cửa, những phản xạ thi đua tiêu thụ, không khỏa lấp được sự trống vắng của nội tâm. Thêm vào đó, những màn giải trí nhắm vào những thị hiếu thấp kém được kỹ nghệ giải trí bày ra để thu hút những thị trường càng rộng lớn càng tốt. Chúng càng ngày càng lấn áp và tiêu diệt những khuynh hướng nghệ thuật thực sự sáng tạo, mang cá tính đặc thù, hướng vào con người như những cá nhân, chứ không phải như một tập thể đồng loạt tiêu thụ một cách máy móc, một bầy cừu con này cắm cổ đi theo con khác, dẫn dắt bởi vị thần Quảng Cáo …

HY VỌNG HAY LÀ ẢO VỌNG ?

Tàn phá môi sinh đưa đến sự hủy diệt của nhân loại như một thành phần của môi sinh. Khánh kiệt tài nguyên đưa đến sữ sụp đổ của của một xã hội con người đặt trên căn bản chính yếu là tiêu thụ. Chênh lệch giàu nghèo đưa đến tranh chấp và hủy diệt con người bởi con người. Sự sụp đổ của các giá trị tinh thần đưa đến hủy diệt gia trị con người của cuộc sống, khiến cuộc sống không còn ý nghĩa, chìm dắm trong hư vô chủ nghĩa. Trước những vấn nạn ấy, ta chờ đợi được gì ở dân chủ và kinh tế thị trường để tìm ra một lối thoát ?