Đoan Trang – Kiểm duyệt báo chí tại Việt Nam: đàn áp bằng những biện pháp phi luật

Lê Quốc Tuấn dịch lại từ nguyên tác Anh Ngữ “Media Cenorship in Vietnam: Suppression by Extrajudicial Punishments” của nhà báo Phạm Đoan Trang

download (2)

“Tính đến ngày 26/12/2013, toàn quốc có 838 cơ quan báo chí in với 1.111 ấn phẩm, trong đó các cơ quan Trung ương có 86 báo, 507 tạp chí; địa phương có 113 báo, 132 tạp chí; có 70 báo điện tử, 19 tạp chí điện tử và 265 trang thông tin điện tử tổng hợp của các cơ quan báo chí,” mẩu tin gần 300 từ được công bố trên trang web chính thức của Bộ Thông tin và Truyền thông Việt Nam đã bắt đầu cùng cách thức khẳng định và thống kê đã từng như thế từ nhiều năm trong việc xem xét “các hoạt động truyền thông tự do” của đất nước trong những năm trước.

Không như những gì mà một sinh viên có thể được giảng dạy trong các trường báo chí, rằng “phần đầu của một bản tin không nên đưa ra cho người đọc quá nhiều con số; và nói chung, tất cả các loại số liệu đều không được ưa thích trên các trang báo,” bất kỳ bài tường thuật nào của báo chí nhà nước ở Việt Nam có liên quan đến tự do báo chí đều có một công thức tương tự không hề thay đổi trong nhiều năm qua: Trước tiên, luôn có một vài số liệu thống kê để làm nổi bật “số lượng lớn” các cơ quan truyền thông tại Việt Nam. Kế đó là một số khẳng định để một lần nữa nhấn mạnh rằng tự do báo chí ở Việt Nam được bảo đảm và phát huy. Kể cả các lời hoa mỹ cũng không thay đổi trong bao năm qua.

Bản báo cáo năm 2014 về tự do báo chí và các hoạt động truyền thông trong năm 2013 đã tiếp tục, như thường lệ, với những con số có xu hướng tăng hơn so với năm trước: “Bên cạnh các cơ quan báo chí in, có 70 báo điện tử, 19 tạp chí điện tử và 265 thông tin điện tử tổng hợp của các cơ quan báo chí. Mạng lưới phát thanh, truyền hình có 67 đài phát thanh, truyền hình Trung ương và địa phương”.

Ngoài những con số ra thì ngôn từ và cấu trúc câu chữ hoàn toàn giống như báo cáo của năm 2012, theo đó: “Tính đến tháng 3 năm 2013, có 812 cơ quan báo chí trên toàn quốc với 1.084 ấn phẩm. Trong số này, có 197 tờ báo, trong đó có 84 tờ báo ở cấp quốc gia và cấp tỉnh, và 113 tờ ở cấp tỉnh. Trong lĩnh vực truyền thông điện tử, có 336 mạng lưới truyền thông xã hội và 1174 trang tin tức đa dạng. Cả nước có 67 cơ quan phát sóng ở cấp tỉnh (địa phương) và cấp quốc gia”.

Số lượng các cơ quan truyền thông rõ ràng có gia tăng. Nhưng sự thực ẩn giấu là tất cả các phương tiện truyền thông đều bị chính phủ kiểm soát dưới các hình thức khác nhau.

Thông tin là kiến thức, kiến thức là sức mạnh… nhưng quý vị không thể có thông tin

Hỏi bất kỳ nhà báo nào trong một nhà nước độc tài, dám cho bạn biết về chính sách của chính phủ đối với báo chí, các câu trả lời đều có thể giống nhau: kiểm soát chặt, trừng phạt các quan điểm khác biệt (và có thể táo bạo), giết chết hy vọng, tư duy phê phán và nhiều nữa… Với tất cả những gì đã làm trong 69 năm qua để kiểm soát các phương tiện truyền thông, chính phủ Việt Nam cộng sản không phải là một ngoại lệ và chính sách của họ không có gì sáng tạo đáng kể, ngoại trừ có thể phải thay đổi một chút để thích nghi với “hoàn cảnh mới trong thời đại internet”, như các nhà tuyên truyền cộng sản giải thích.

Trước tiên, chính phủ duy trì một hệ thống các cơ quan công tác tuyên truyền hoạt động ở cả cấp nhà nước lẫn cấp tỉnh thành. Các cơ quan này duy trì những cuộc họp thường kỳ với báo chí để uốn nắn họ vào khuôn khổ đường lối của đảng cộng sản cầm quyền, mặc dù các nhà tuyên truyền thường gọi tránh các cuộc họp này thành “trao đổi, định hướng thông tin tuyên truyền”.

Có thể hiểu rằng Đảng Cộng sản Việt Nam, mặc dù cố gắng để kiểm soát báo chí thông qua các “cuộc họp định hướng thông tin” nhưng lại không bao giờ muốn cho mọi người, đặc biệt là cộng đồng quốc tế, biết đến vai trò của mình. Vì vậy, một mặt, họ ra lệnh cho các tổng biên tập phải truyền đạt hướng biên tập của Đảng xuống các nhà báo cấp dưới; mặt khác, họ muốn báo chí phải giữ cực kỳ bí mật cái thực tế là Đảng duy trì kiểm soát phương tiện truyền thông qua các cuộc họp như vậy. Không ngạc nhiên, có một điều luật bất thành văn là các tổng biên tập viên phải là đảng viên, để đảm bảo rằng các tổng biên tập hành động thay mặt cho Đảng chứ không phải cho người dân, và bảo đảm rằng các “thông tin nhạy cảm” sẽ không bị rò rỉ từ các cuộc họp tuyên truyền ra công chúng, đặc biệt là đến tay các blogger vốn có thể nhanh chóng gửi thông tin nhạy cảm ấy lên các trang web.

Không có thẻ nhà báo là không có cửa

Hóa ra, một trong những công cụ hiệu quả nhất để kiểm soát báo chí, chính là thẻ nhà báo. Đấy là một thẻ nhỏ, không chứa đựng gì khác hơn một thẻ báo chí thông thường mà quý bạn có thể tìm thấy trong bất kỳ quốc gia nào, nhằm phân biệt một nhà báo từ những người khác khi cần thiết, ngoại trừ việc nó được phát hành bởi chính phủ Việt Nam chứ không phải là một tổ chức xã hội dân sự chuyên nghiệp.

Điều 14 của Luật báo chí Việt Nam đã định nghĩa nhà báo là một người “đáp ứng tiêu chuẩn chính trị, đạo đức và chuyên nghiệp của Nhà nước” và “được cấp thẻ nhà báo”. Và Bộ Thông tin và Truyền thông chỉ ban thẻ nhà báo cho một phóng viên khi họ đáp ứng được các yêu cầu áp đặt bởi thông tư mang số 07/2007/TT-BVHTT, bao gồm yêu cầu “không bị xử lý kỷ luật từ khiển trách trở lên trong thời hạn 12 tháng tính đến thời điểm xét cấp thẻ”, “được đề nghị của cơ quan truyền thông, bộ chủ quản ngành, Bộ Văn hóa Thông tin và Hội Nhà báo “, và “Có thời gian công tác liên tục theo chế độ biên chế hoặc hợp đồng dài hạn tại cơ quan báo chí đề nghị cấp Thẻ từ ba (3) năm trở lên”. Tất cả các yêu cầu ấy là khó có thể đáp ứng được, đặc biệt đối với các phóng viên có xu hướng chỉ trích Đảng.

Những ai không có thẻ nhà báo sẽ không được công nhận là nhà báo, và có nghĩa là họ không bao giờ có thể bước vào lĩnh vực truyền thông. Vì vậy, một mặt, Đảng và nhà nước kiểm soát chặt chẽ phương tiện truyền thông chính thức. Mặt khác, họ sử dụng “thẻ nhà báo do chính phủ cấp” để từ chối các nhà báo độc lập, chủ yếu là các blogger hay nhà báo công dân.

Tệ hơn nữa, bằng cách từ chối các nhà báo độc lập, chính phủ cũng từ chối nghĩa vụ bảo vệ họ và cả tự do thông tin. Sự từ chối này còn cho phép lượng công an và côn đồ đàn áp các blogger và cả các nhà báo chính thống không có thẻ nhà báo. Một báo cáo của tổ chức RED Communication trong năm 2012 chỉ ra rằng đã có hàng chục nhà báo không có thẻ nhà báo trở thành nạn nhân của các hình thức ngăn trở khác nhau, bao gồm cả việc đả thương cơ thể (1). Không có báo cáo nào về trường hợp nhân viên truyền thông bị tấn công trong năm 2013, nhưng số lượng các blogger bị sách nhiễu và đàn áp chính trị rõ ràng ngày càng tăng. Trong cuộc đàn áp gần đây nhất vào ngày 11 tháng 2 năm 2014, blogger Bùi Thị Minh Hằng, 50 tuổi, đã bị bắt. Hằng là một nhà hoạt động tranh đấu cho quyền đất đai lớn tiếng và thẳng thắn, người đã dùng trang Facebook và trang blog, danoanbuihang.blogspot.com, của mình để tưòng thuật về những vụ cưỡng chiếm đất đai và các vi phạm đối với người nông dân. Hiện nay, cùng hai người đồng hành khác, bà đang bị tạm giam chờ xét xử.

Hỡi các nhà báo, hãy tránh xa không gian blog !

Đồng thời, bất kỳ một tiềm năng hợp tác nào giữa phương tiện truyền thông chính và các phương tiện truyền thông khác đều bị ức chế. Ngày 26 tháng 2, 2013, Nguyễn Đắc Kiên, phóng viên tờ Gia Đình & Xã Hội, đã viết một bài báo công khai chỉ trích Tổng Bí thư là phê phán quá đáng và phỉ báng trong việc xem tự do ngôn luận như một hình thức suy thoái đạo đức. Ban đầu ông đăng bài viết trên blog của mình và cũng gửi lên trang Anh Ba Sam (“Thông tấn Vỉa hè”), một blog vận động dân chủ nổi tiếng tại Việt Nam). Bài viết được công bố trên Anh Ba Sam buổi sáng thì đầu buổi chiều hôm đó, các nhà lãnh đạo của tờ báo đã tổ chức một cuộc họp với Kiên và sa thải ông. Có thể cho rằng đây là hậu quả cho quyết định táo bạo dám công bố bài viết chống lại ông Trọng trên trang blog cá nhân của mình trong khi đang làm việc cho một tờ báo chính thống. Ông đã làm những gì mà các quan chức phương tiện truyền thông thù ghét và cảm thấy cảnh giác nhất về một nhà báo “nhà nước” đã tham gia vào thế giới blog.

Trong năm 2013, nhà chức trách cũng bắt và kết án ba blogger, hai trong số đó là các nhà báo nổi tiếng: Trương Duy Nhất, Phạm Viết Đào và Đình Nhật Uy.

Trương Duy Nhất, 50 tuổi, từ thành phố Đà Nẵng, hoạt động nghề báo từ năm 1987 cho đến năm 2011 thì bỏ sự nghiệp viết báo của mình để tập trung vào trong blog cá nhân “Một góc nhìn khác” của mình, nơi ông tuyên bố là mình “có thể tự do bày tỏ ý kiến của mình mà không bị nhà nước kiểm duyệt”. Từ đó, Nhất đã trở thành một blogger nổi tiếng, người đã viết 1000 bài viết liên quan đến tình hình chính trị và xã hội của đất nước. Nhiều bài của ông trở thành nổi tiếng trong cộng đồng internet ở Việt Nam. Chắc chắn Nhất không thể tránh khỏi bị bức hại. Năm 2011 và 2012, tồi thiểu đã có 4 lần Sở Thông tin và Truyền thông và công an địa phương Đà Nẵng triệu tập ông để thẩm vấn và buộc ông phải dừng viết blog, nhưng Nhất từ chối không gặp. Ngày 26 tháng năm 2013, Nhất đã bị bắt và bị buộc tội “lạm dụng tự do dân chủ để xâm phạm lợi ích của Nhà nước” theo Điều 258 Bộ luật hình sự Việt Nam. Bản cáo trạng của ông nói rằng với các hoạt động viết blog của mình, Nhất đã chỉ trích chính sách của chính phủ và các nhà lãnh đạo của Đảng. Ngày 4 tháng 3 năm 2014, Nhất đã bị kết án 2 năm tù giam.

Chưa đầy một tháng sau khi Trương Duy Nhất bị bắt, cũng dựa vào điều 258 Bộ luật hình sự, ngày 13 tháng sáu năm 2013 công an bắt giữ blogger, nhà báo Phạm Viết Đào. Trường hợp của ông không khác gì so với Trương Duy Nhất. Đào được cho là đã thiết lập ba trang blog, phamvietdao3.blogspot.com, phamvietdao4.blogspot.com, và chientranhtrungviet.blogspot.com, trong thời gian giữa tháng 2 năm 2012 và tháng 6 năm 2013 (thời điểm lúc bị bắt). Sử dụng ba trang blog này, Đào đã viết 91 bài viết quan trọng về những việc làm sai trái và chính sách tồi tệ của chính phủ, đặc biệt là những chính sách chủ trương có liên quan đến quan hệ Việt-Trung. Các bài viết của ông thẳng thắn, đầy tính thông tin và được viết từ quan điểm của một quan chức chính phủ. Những bài viết này thu hút một lượng độc giả lớn và khiến Phạm Viết Đào trở thành một trong những blogger nổi bật nhất tại Việt Nam.

Vì những bài viết này, trong bản cáo trạng kết tội ông, Đào bị buộc tội “nói xấu Đảng và Nhà nước, xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền lợi ích hợp pháp của các tổ chức và / hoặc công dân.” Tuy nhiên, bằng chứng để xử phạt ông lại không hề được công chúng biết đến. Ngày 19 tháng 3 năm 2013, Tòa án nhân dân Hà Nội kết án Phạm Viết Đào 15 tháng tù giam kể từ ngày bị giam giữ. Phiên toà không cho công chúng chứng kiến, các blogger và những người bảo vệ nhân quyền bị cấm tham dự.

Các trang blog của Đào và Nhất đều bị đóng lại khi họ bị bắt giam.

Bóng ma dư luận viên

Nhiều người Việt Nam có suy nghĩ phê phán và hoài nghi đề cập đến một sự thật rõ ràng khó chịu là trong hầu hết trường hợp, chính quyền Việt Nam chỉ là một bản sao của đối tác Trung Quốc trong việc cai trị đất nước. Hãy xem việc kiểm soát Internet như một ví dụ. Để chống lại tiếng nói bất đồng chính kiến trên không gian mạng, chính phủ cộng sản Trung Quốc sử dụng những người gọi là “đội quân 50 xu”. Đó là những người được chính quyền trung ương và địa phương thuê để viết những lời bình luận có lợi cho chính sách của đảng trên internet trong nỗ lực uốn nắn và xoay chuyển ý kiến công chúng trên các bảng tin nhắn internet khác nhau(2).Tháng Mười năm 2004, bộ Tuyên truyền Trường Sa bắt đầu thuê những người bình luận trên internet, một trong những ứng dụng được biết đến sớm nhất của nghề bình luận có lương trên internet.

ĐCSVN chỉ bắt chước đúng như thế. Ngày 9 tháng 1, 2013, trong một cuộc họp xem xét các hoạt động báo chí năm 2012, trưởng Ban Tuyên giáo Thành Uỷ Hà Nội Hồ Quang Lợi, tuyên bố Hà Nội đã là “địa bàn chống phá của các đối tượng” trong năm. Ông nói các biện pháp của ban Tuyên giáo là phải hình thành một lực lượng 900 “dư luận viên” trên toàn thành phố, “nhằm phát huy sức mạnh của đội ngũ tuyên truyền miệng” Đồng thời, báo chí của thành phố, “báo chí thủ đô thực hiện ý kiến chỉ đạo về những vụ việc nhạy cảm; thành lập các tổ phóng viên bấm nút, phản ứng nhanh.”(3)

Cụm từ “Dư Luận viên” và “phóng viên bấm nút, phản ứng nhanh” nói đến những người được Đảng trả lương để uốn nắn ý kiến công chúng trên trực tuyến bắt đầu trở thành phổ biến. Tuy nhiên, căn cứ vào sức mạnh đối tác của họ ở Trung Quốc, có khả năng là họ phải hiện diện từ những ngày đầu của blog và mạng truyền thông xã hội tại Việt Nam.

Trong năm 2013, đội quân mạng này đã vượt quá chức năng “dư luận viên”, để trở thành một nỗi ám ảnh thực sự đối với các blogger và các nhà báo chính thống có xu hướng tiến bộ đang sử dụng phương tiện truyền thông xã hội như một phương tiện để nâng cao, phổ biến quan điểm của mình. Không ai biết chính xác số lượng đội quân mạng, nhưng với thực tế của việc hàng ngày có hàng chục trang blog và hàng ngàn lời bình tấn công vào những người ủng hộ dân chủ, và việc chỉ riêng Hà Nội đã có 900 dư luận viên, chắc hẳn phải có đến hàng ngàn binh sĩ mạng trên toàn quốc. Đội quân bí mật này duyệt thế giới blog mỗi ngày, hối hả đăng tải những bài ủng hộ các chính sách mới của chính phủ và chống lại bất kỳ phê bình chỉ trích nào. Họ cũng theo dõi chặt chẽ các blogger và nhà báo nổi bật để định hình ý kiến công chúng thông qua những “trạm trung tâm” này bằng cách sử dụng ngôn từ thô lỗ để đàn áp và đe dọa những tiếng nói bất đồng chính kiến.

Vào tháng 2 năm 2014 khi nhà báo Đào Tuấn đưa ra một loạt các bài viết để tưởng nhớ cuộc chiến tranh biên giới năm 1979 giữa Trung Quốc và Việt Nam, ông đã dự kiến những bài viết này sẽ bị ép buộc phải tháo gỡ khỏi trang mạng tin tức “Một Thế Giới” như bất kỳ bài viết nào khác từng bị Ban Tuyên giáo Trung ương chỉ thị phải giữ im lặng trong dịp này. Nhưng ông hẳn không ngờ mình còn bị tấn công hết sức thô bạo bởi đội quân không gian mạng.

“Đào Tuấn thích “cấp tiến” thì kiếm nồi cơm khác mà diễn. Xuyên tạc lịch sử để câu vìu đừng trách bị ăn chửi. Có nhiều cách để mày kiếm cơm động vào những thứ linh thiêng thì mồm ngậm tiền nhưng răng không còn đâu. Nhà tao ở Cẩm phả quảng ninh, cách biên giới Móng Cái những 150km đường Bộ, vậy mà còn phải đào hầm hào, hố cá nhân trước 17/2/79 .Dân còn như vậy nói gì đến chính quyền. Mày kêu quân đội thiếu chuẩn bị nên bị bất ngờ là hoàn toàn ấu trĩ. Đừng để bị biến thành thằng Phạm Viết Đào thứ 2″, một nhà bình luận đã viết như vậy trên facebook của Đào Tuấn khi ông phàn nàn về việc nhiều bài viết của ông bị xóa khỏi trang web vì chỉ thị của ban Tuyên giáo.(4)

Không chỉ cá nhân các nhà báo và các blogger, ngay cả báo chí chính thống như những tờ được nhiều người đọc như Tuổi Trẻ, Thanh Niên và trang Một Thế Giới đang nổi lên đều đã là mục tiêu của đội quân không gian mạng. Họ thường bị cáo buộc tội “phổ biến thông tin sai trái và gây hiểu nhầm”, “bôi bẩn hình ảnh của Đảng và nhà nước,” và ngay cả tội “phản quốc”. Trong nhiều trường hợp, đội quân mạng còn đi xa hơn bằng việc xâm nhập quyền riêng tư của cư dân mạng bao gồm các blogger, các nhà hoạt động nhân quyền và bất đồng chính kiến, tung tin vu khống họ.

Giờ đây, các blogger và các nhà báo ở Việt Nam không chỉ phải bảo vệ mình trước các tuyên truyền viên, cảnh sát và côn đồ, họ còn phải “sống sót” trước sự hãm hại của đông đảo quân đội mạng. Họ phải viết dưới bóng ma dư luận viên lởn vởn trên đầu.

“Thánh Hai đen tối” của năm 2014 đã kết thúc với việc phải đóng cửa theo quyết định của Bộ Thông tin và Truyền thông của Sài Gòn Tiếp Thị, một tờ báo có thể coi là tiến bộ nhất trong năm năm qua. Trên giấy tờ, lý do được đưa ra là tờ báo bị khó khăn tài chính và trên bờ vực phải phá sản. Điều này rõ ràng là một lý do rất không đáng tin, như nhiều độc giả cũng biết, tờ Sài Gòn Tiếp Thị có thể nhận được hỗ trợ tài chính từ những ngườ yêu mến và họ có thể giải quyết các khoản nợ bằng cách bán bớt bán bất động sản của mình. Một thông tin bị rò rỉ từ một trong các nhà báo của tờ Sài Gòn Tiếp Thị, vốn bản thân là nạn nhân của các dư luận viên, cho biết vì những nội dung nặng tính chỉ trích, tờ báo bị chính quyền ghét bỏ và buộc phải đóng cửa.

Có ánh sáng nào ở cuối đường hầm không?

Khi Việt Nam trở thành một thành viên của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc 2014-2016, các nhà hoạt động nhân quyền hy vọng có thể tận dụng lợi thế của cơ chế nhân quyền Liên Hợp Quốc để thúc đẩy và bảo vệ các quyền ở Việt Nam, nơi quyền tự do ngôn luận đang bị vi phạm rộng rãi nhất.

Tin vui khác là trong năm năm qua, một số trang truyền thông khác đã nổi lên, bao gồm Dan Luân và Bauxite Việt Nam, thành lập năm 2009, Nhật ký yêu nước, và Dan Lam Bao, thành lập năm 2010 Diễn Đàn Xã Hội Dân Sự, năm 2013 và Việt Nam Right Now, vừa ra mắt ngày 24 tháng 3 năm nay, một trang web tin tức đầu tiên bằng tiếng Anh, có sứ mạng báo cáo các vi phạm nhân quyền tại Việt Nam với thế giới. Tất cả những tổ chức truyền thông xã hội dân sự này đã cố gắng để vận động cho nhân quyền và dân chủ tại Việt Nam, bất chấp những thách thứ mà họ phải đối mặt trong một môi trường không tự do.

Ngoài các phương tiện truyền thông này, đông đảo người dân hàng đang sử dụng các trang Facebook hoặc blog của họ như một phương tiện để nói lên ý kiến của mình bất chấp tất cả các hình thức đàn áp chính trị. Dù trong một tương lai gần, chính phủ Việt Nam có thể không nới lỏng kiểm soát phương tiện truyền thông, nhưng họ cũng khó có thể dập tắt tiếng nói bất mãn ngày càng gia tăng trên Internet.

1.Centre for Research on Development Communication, “Research on Obstructions against Journalism”, Hanoi, 2012
2. Michael Bristow, “China’s Internet ‘spin doctors’”, BBC, 16 December 2008 / Wikipedia. Có thể đọc tại : http://news.bbc.co.uk/2/hi/asia-pacific/7783640.stm
Sophie Beach, “Internet Spin for Stability Enforcers”, China Digital Times, 25 May, 2010. Có thể đọc tại : http://chinadigitaltimes.net/2010/05/internet-spin-for-stability-enforcers/
3. Đào Tuấn phỏng vấn: “Tổ chức nhóm chuyên gia bút chiến trên Internet”, Nhật báo Lao Dong , 9 tháng Giêng, 2013. Có thể đọc tại: http://laodong.com.vn/chinh-tri/to-chuc-nhom-chuyen-gia-but-chien-tren-internet-98582.bld
4.Có thể đọc tại :https://www.facebook.com/tuan.dao.9828/posts/691314330891152?comment_id=100872421&ref=notif&notif_t=like#