Tòa tối cao ‘đang xét lại’ bản án Lê Văn Mạnh

Bà Nguyễn Thị Việt, mẹ của Lê Văn Mạnh, cảm ơn cộng đồng giúp lên tiếng cho vụ việc của con mình.

Đại diện Thanh tra Tòa tối cao tiếp mẹ tử tù Lê Văn Mạnh nhưng đề nghị bà liên hệ với tòa Thanh Hóa về những yêu cầu liên quan tới bản án của con mình.

Truyền thông trong nước cho biết tham dự buổi làm việc vào hôm 26/10 còn có đại diện UBND huyện Yên Định, Ban tiếp Công dân và Phòng An ninh xã hội tỉnh Thanh Hóa.

Ông Hồ Sỹ Hưng, Trưởng phòng tiếp công dân thuộc Ban Thanh tra TAND tối cao, được dẫn lời nói “đã liên hệ với Chánh án TAND tỉnh Thanh Hóa và được biết TAND tỉnh Thanh Hóa chưa ra quyết định thi hành án tử hình đối với Lê Văn Mạnh, do đó chưa có sơ sở để xem xét hoãn thi hành án.”

Phát biểu này dường như mâu thuẫn với thông báo mà Chánh án TAND tỉnh Thanh Hóa đã ký vào ngày 16/10/2015 gửi ông Lê Văn Chính và bà Nguyễn Thị Việt (Cha mẹ của Lê Văn Mạnh) về việc thi hành án tử hình đối với Lê Văn Mạnh để gia đình làm đơn nhận tử thi đưa về an táng.

Các luật sư đại diện cho Lê Văn Mạnh nói rằng vào ngày 14/10/2015 Chánh án Tòa án Nhân dân tỉnh Thanh Hóa đã ra quyết định số 02/QD – CA đối với Lê Văn Mạnh và bị cáo phải chấp hành án tử hình vào ngày 26/10/2015.

Tại buổi làm việc kể trên, mẹ của Lê Văn Mạnh được thông báo rằng “TAND tối cao đang xem xét theo quy định của pháp luật về đề nghị xem xét lại bản án.”

“Đối với yêu cầu của gia đình về việc đề nghị cung cấp quyết định thi hành án và cho phép luật sư tham gia trong quá trình xem xét lại vụ án, đại diện TAND tối cao đề nghị gia đình trở về địa phương và liên hệ với TAND tỉnh Thanh Hóa để được trả lời cụ thể,” báo Tuổi Trẻ đưa tin.

Vào hôm 23/10, luật sư Trần Vũ Hải cho biết phòng tiếp dân của Toà án nhân dân tối cao không chịu nhận đơn đề nghị hoãn thi hành án tử hình vào ngày 26/10/2015 đối với Lê Văn Mạnh.

‘Thú tội do bị tra tấn’

Image 

Trên mạng xuất hiện video bà Nguyễn Thị Việt, mẹ của Lê Văn Mạnh, cảm ơn “cộng đồng” giúp lên tiếng cho vụ việc của con mình bởi nếu không “con tôi đã bị bắn oan, tôi bị mất con và cháu tôi bị mất cha.”

Trên mạng cũng xuất hiện ảnh được mô tả là người mặc thường phục dùng vũ lựcđưa em trai của Lê Văn Mạnh về đồn công an khi đang cầm biểu ngữ kêu oan cho anh mình tại Hà Nội.

Ủy ban Luật gia Quốc tế (International Commission of Jurists – ICJ) vừa gửi thư tới Chủ tịch nước Việt Nam Trương Tấn Sang kêu gọi ngưng ngay kế hoạch tử hình phạm nhân Lê Văn Mạnh và cho mở cuộc điều tra độc lập về các cáo buộc nói ông Mạnh đã bị cảnh sát tra tấn bắt nhận tội.

“Việc xử tử Lê Văn Mạnh sẽ là sự bác bỏ quyền được sống và tạo thành sự vi phạm nghiêm trọng các nghĩa vụ quốc tế của Việt Nam, và việc đó phải được dừng lại ngay lập tức,” ông Kingsley Abbott, cố vấn pháp lý quốc tế của ICJ nói.

“Hơn nữa, lời nhận tội của Lê Văn Mạnh, được cho là thú tội do bị tra tấn, đã được dùng làm chứng cứ trong phiên xử cho thấy một cách rõ ràng rằng tiến trình tố tụng không hề phù hợp với luật pháp, tiêu chuẩn quốc tế, và chỉ riêng điều đó đã đủ là lý do để Lê Văn Mạnh phải được hoãn thi hành án tử hình vĩnh viễn,” ông Abbott nói thêm.

Vụ Lê Văn Mạnh đã thu hút sự chú ý ở cả trong nước lẫn quốc tế.

Hôm 25/10, Đặc ủy Nhân quyền và Hỗ trợ nhân đạo của Chính phủ Cộng hòa Liên bang Đức, Christoph Strässe từ Berlin đã “đề nghị các cơ quan có thẩm quyền tại Việt Nam hoãn thi hành án tử hình đối với Lê Văn Mạnh và tiến hành xét xử lại vụ án”.

“Hành vi phạm tội của Lê Văn Mạnh là không rõ ràng và phải được thẩm tra lại bằng một quá trình điều tra, xét xử công bằng,” ông Strässe nói.

Trước đó, một loạt các luật sư Việt Nam đã ký đơn gửi Chủ tịch Trương Tấn Sang và các cơ quan liên quan kiến nghị hoãn thi hành án tử hình với tử tù Lê Văn Mạnh để “tránh hàm oan người vô tội”.

Ông Lê Văn Mạnh hồi 2005 đã bị kết tội giết người, hiếp dâm trẻ em và cướp tài sản. Ông đã nhận tội, nhưng sau đó phản cung và nói ông bị cảnh sát tra tấn dã man.

Qua ba lần xét xử, Tòa án Tối cao đã giữ nguyên án tử hình trong phiên tòa ngày 25/11/2008.

Nguồn:BBC.com

Advertisements

Trung Quốc không thể đòi chủ quyền với tên « Biển Nam Trung Hoa »

Trọng Nghĩa

Phát Thứ hai, ngày 21 tháng chín năm 2015

Trung Quốc không thể đòi chủ quyền với tên « Biển Nam Trung Hoa »

Quần đảo Trường Sa, khu vực có tranh chấp chủ quyền. Ảnh ngày 11/05/2015. Reuters

Tham vọng phải chăng có thể làm cho một con người mất hẳn trí khôn ? Đây dường như là trường hợp của vị Phó Đô đốc Viên Dự Bách (Yuan Yubai), tư lệnh Bắc Hải Hạm đội của Hải quân Trung Quốc. Nhân một hội nghị về quốc phòng tại Luân Đôn hôm 14/09/2015, trước một cử tọa bao gồm rất đông quan chức quốc phòng và quân sự thế giới, trong đó có hai Phó Đô đốc Hoa Kỳ và Nhật Bản, không kể đến nước chủ nhà là Anh Quốc, ông Viên Dự Bách đã không ngần ngại khẳng định rằng Biển Đông là của Trung Quốc vì lẽ trong tên gọi quốc tế bằng tiếng Anh của biển này là South China Sea – dịch sang tiếng Việt là Biển Nam Trung Hoa – có từ China – nghĩa là Trung Quốc.

Nhận định này của viên Đô đốc Trung Quốc đã lập tức làm dấy lên nhiều lời nhạo báng do tính chất vô lý của nó. Tờ Time của Mỹ hôm 15/09, khi loan tin về lập luận kể trên, đã không ngần ngại mở đầu bài viết của mình như sau :

« Có gì trong một cái tên ? Cả một cái biển ! Phó Đô đốc Trung Quốc Viên Dự Bách đã trả lời như trên hôm 14 tháng 9 tại một hội nghị quốc phòng ở Luân Đôn. Theo báo giới chuyên về quốc phòng, ông Viên Dự Bách nói rằng « Biển Nam Trung Hoa, như tên gọi của nó cho thấy, là một vùng biển thuộc về Trung Quốc ». Tư lệnh Hạm đội Bắc Hải của Hải quân Trung Quốc nói thêm rằng vùng biển rộng lớn đó đã thuộc về Trung Quốc từ thời nhà Hán, cai trị nước này từ năm 206 trước Công nguyên đến năm 220. »

Sau khi nêu bật các tham vọng của Trung Quốc tại Biển Đông, và phản ứng các nước khác từ Hoa Kỳ cho đến Philippines, tờ báo Mỹ đã kết luận một cách mỉa mai : « Trong khi đó, không thấy nói gì về việc liệu Phó Đô đốc Viên Dự Bách có nghĩ rằng Ấn Độ Dương là của Ấn Độ – hay Vịnh Mêhicô là của nước Mêhicô – chỉ do tên gọi hay không ? »

Phát biểu trong cuộc điều trần ở Thượng viện Mỹ hôm 17 tháng 09 vừa qua, Đô đốc Harry Harris, Tư lệnh Lực lượng Mỹ tại vùng Thái Bình Dương như cũng đả kích cách lý sự của ông Viên Dự Bách khi cho rằng : « Tôi đồng ý là Biển Nam Trung Hoa cũng không thuộc về Trung Quốc giống như là Vịnh Mêhicô không thể thuộc về Mêhicô ».

Báo mạng Việt Nam cũng nhập cuộc, ví dụ như trang Tin tức.vn trong bài viết : « Nực cười với lập luận về Biển Đông của Phó Đô đốc Hải quân Trung Quốc » đăng ngày 16/09 đã đánh giá rằng ông Viên Dự Bách quả là đã có một phát biểu « ngớ ngẩn ».

Trang Soha.vn cùng ngày cũng tự hỏi là « Với một người đã làm tới hàm Phó Đô đốc, thật khó có thể hiểu nổi tại sao Viên Dự Bách lại có thể đưa ra một phát biểu ngớ ngẩn như vậy ».

Trang thông tin này đã trích nhận định của một chuyên gia, Tiến sĩ Trần Công Trục, nguyên Trưởng ban Biên giới Chính phủ Việt Nam theo đó : « Về mặt pháp lý, tên gọi không phải là yếu tố có giá trị để khẳng định chủ quyền của một quốc gia đã đặt tên cho một khu vực địa lý nào đó; chẳng hạn, gọi là Ấn Độ Dương không có nghĩa đại dương này thuộc về Ấn Độ; vịnh Thái Lan không có nghĩa là vịnh này hoàn toàn thuộc về Thái Lan. »

Bên cạnh tính chất thô thiển mà ai cũng thấy, cách chứng tỏ chủ quyền kiểu Phó Đô đốc Viên Dự Bách nêu bật vấn đề từng được bàn cãi từ lâu trong giới nghiên cứu : đó là cần phải thay đổi tên gọi của Biển Đông, gọi hẳn đó là Biển Đông Nam Á, với tên gọi quốc tế là South East Asia Sea. Cách gọi này cho phép tránh được hiểu lầm hay lạm dụng như điều Tư lệnh Hạm đội Bắc Hải của Trung Quốc vừa làm.

Để tìm hiểu thêm về vấn đề này, RFI đã hân hạnh được tiếp chuyện với Tiến sĩ Vũ Quang Việt tại Hoa Kỳ, nguyên chuyên gia thống kê ở Liên Hiệp Quốc. Tiến sĩ Việt là một trong những người đã từng nêu lên vấn đề đổi tên gọi quốc tế của Biển Đông từ « Biển Nam Trung Hoa » thành « Biển Đông Nam Á ».

Sau đây, mời quý vị nghe bài phỏng vấn Tiến sĩ Vũ QuangViệt dành cho RFI.

« Tên gọi không làm cho cái được gọi tên trở thành biển của mình. Giống như biển Bắc bộ (phía bắc Việt Nam) nằm giữa Việt Nam và Trung Quốc được gọi là ngay cả Trung Quốc gọi là vịnh Bắc Bô (北部湾), lấy Bắc Việt Nam làm điểm gốc nhưng không có nghĩa là vịnh này thuộc Việt Nam. Thậm chí hai nước đã có hiệp định phân chia tính từ biên giới biển Việt Nam và Hải Nam.

Trung Quốc thời cổ gọi nó bằng nhiều tên, như thời nhà Châu thì gọi là Nam Phương Hải, thời Xuân thu chiến quốc thì gọi là Nam Hải, thời Đông Hán gọi là Trường Hải. Nhưng tên được sử dụng nhiều thời nhà Thanh là Nam Hải.

Điều này chẳng khác gì Việt Nam gọi nó là Biển Đông, tức là lấy vị trí của nước mình là cơ sở để định vị Biển và đặt tên Biển. Phi mới đây đặt cho nó tên là Biển Tây Phi Luật Tân cũng là theo chiểu hướng đó.

Tên Biển Trung Hoa hay Nam Trung Hoa là do người Bồ Đào Nha đặt ra khi đi đến nơi vào thế kỷ thứ 16.

Cho đến mới đây, Trung Quốc chưa từng bao giờ có dân thường xuyên sống ở đó và có quân đội bảo vệ lãnh thổ của họ. Trung Quốc có sách ghi lại không rõ ràng về Trường Sa, thậm chí không rõ địa giới và bao nhiêu đảo và cho rằng có người Trung Quốc đến đánh cá do đó là thuộc Trung Quốc.

Họ quên rằng nhiều dân khu vực Đông Nam Á (Chàm, Phi, Việt v.v.) cũng đã đến đánh cá. Và vào năm 1933 Pháp đã chính thức yêu sách chủ quyền và gửi quân tới. Họ chẳng phải đánh ai để chiếm vì đó là chỗ không người. »

*********

Nguồn:

http://vi.rfi.fr

Tuyên bố chung của các tổ chức xã hội dân sự độc lập đối với Dự thảo Luật về Hội

Tuyên bố chung của các tổ chức xã hội dân sự độc lập đối với Dự thảo Luật về Hội

1.8.15

Tuyên bố chung này được đưa ra bởi các hội đoàn độc lập dưới đây, cũng chính là các tổ chức xã hội dân sự bị loại ra ngoài vòng pháp luật do không được chính quyền Việt Nam cấp phép hoạt động.
I- Trước tiên, chúng tôi công nhận rằng sự rõ ràng, toàn diện, hoàn thiện và khả năng áp dụng công bằng cho mọi thành phần xã hội của luật pháp quốc gia là vô cùng cần thiết đối với sự bảo đảm và phát huy các quyền tự do dân sự của người dân, đối với sự phát triển toàn diện của quốc gia và sự tồn tại của nền pháp trị.
Và chúng tôi cũng nhận thức sâu sắc rằng, điều 4 Hiến pháp cho phép Đảng cộng sản Việt Nam độc tôn đứng trên mọi lực lượng Nhà nước và xã hội và các Luật vi phạm nghiêm trọng các nguyên tắc dân chủ tự do và nhân quyền quốc tế nhằm bảo vệ quyền lực của Đảng cộng sản chính là nguyên nhân quan trọng cho tình trạng thiếu vắng một nền pháp trị thực sự ở Việt Nam.
Là các tổ chức dân sự độc lập, tự nguyện và tự quản, chúng tôi cũng hiểu rõ rằng, việc luật pháp tạo điều kiện cho sự can thiệp tuỳ tiện của Nhà nước vào đời sống dân sự sẽ làm suy yếu lĩnh vực hoạt động XHDS, ngăn chặn sự đóng góp hữu hiệu của người dân trong việc hình thành các chính sách tốt đẹp cho quốc gia.
II- Đại diện cho các tổ chức XHDS độc lập đang nằm trong số những nạn nhân của các chính sách và hành vi đàn áp quyền tự do lập hội của chính quyền Việt Nam, chúng tôi quyết tâm không để mình bị loại ra khỏi tiến trình đóng góp ý kiến cho bản Dự thảo Luật về Hội, có liên quan trực tiếp đến quyền lợi và tương lai của chúng tôi và của toàn thể dân tộc Việt Nam.
Sau đây là một số nhận xét của chúng tôi về Dự thảo Luật về Hội này. Chúng tôi yêu cầu chính quyền Việt Nam huỷ bỏ hoặc sửa đổi các điều khoản dưới đây theo hướng tôn trọng và bảo vệ quyền tự do Lập hội, nhằm tuân thủ các nguyên tắc của Công pháp quốc tế mà chính quyền đã ký kết.
1/ Phân biệt đối xử
“Hội”, theo hiểu biết của chúng tôi, bao gồm các tổ chức XHDS (CSO), các câu lạc bộ, các hợp tác xã, các tổ chức phi chính phủ, các tổ chức tôn giáo, các nhóm chức nghiệp và phái tính, các đảng phái chính trị, các công đoàn và các sáng hội (foundation). Vì vậy, cả đảng Cộng sản Việt Nam cũng phải được định nghĩa như một hội thông thường trong Luật về Hội, không có ưu tiên độc tôn, độc quyền và không cần một văn bản pháp luật khác điều chỉnh riêng.
Quy định tại khoản 2 điều 1 loại Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Công đoàn Việt Nam, Hội Nông dân Việt Nam, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Hội Cựu chiến binh Việt Nam ra khỏi phạm vi điều chỉnh của Luật về Hội cho thấy chính quyền Việt Nam muốn tiếp tục duy trì ưu thế của các tổ chức công cụ của Đảng Cộng sản Việt Nam này. Và việc loại các tổ chức tôn giáo ra khỏi phạm vị áp dụng của luật này khiến chúng tôi lo lắng về tương lai của các tổ chức tôn giáo không đăng ký và các nhóm tôn giáo của người sắc tộc.
2/ “Giấy phép” là rào cản
Khoản 3 điều 2 cho phép Chính phủ Việt Nam quy định chi tiết về các hội đoàn không có tư cách pháp nhân sẽ tạo điều kiện cho các văn bản dưới luật bóp nghẹt quyền Tự do lập hội ra đời và do đó, phần lớn nội dung của Dự thảo Luật về Hội thực ra chỉ áp dụng đối với hội có tư cách pháp nhân, tức được chính quyền công nhận. Việc luật trao cho chính phủ quyền ban hành các quy định dưới luật nhằm tước bỏ hoặc hạn chế các quyền của công dân mà hiến pháp và luật pháp công nhận là một chính sách được thực hiện xuyên suốt của chính quyền Việt Nam.
Quyền Lập hội là quyền hiến định, bất cứ người dân nào cũng có quyền lập hội và tham gia hội. Do đó việc lập Hội chỉ cần GHI DANH và CÔNG BỐ, không cần xin phép và đợi sự cho phép của cơ quan Nhà nước. Vậy, để bảo đảm tôn trọng Quyền tự do lập hội, toàn bộ Dự thảo Luật này không nên chỉ điều chỉnh các hội có tư cách pháp nhân mà thôi và loại các hội không có tư cách pháp nhân cho các văn bản dưới luật của chính phủ điều chỉnh.
3/ Cấm đoán tùy tiện
Điều 8 quy định về các hành vi bị nghiêm cấm, trong đó có việc “cản trở, ép buộc, can thiệp vào việc thành lập, tổ chức, hoạt động hội trái quy định của pháp luật” (Khoản 1) và “xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước, cộng đồng, tổ chức, cá nhân; gây phương hại đến lợi ích, chủ quyền, an ninh quốc gia, an toàn xã hội, khối đại đoàn kết dân tộc” (Khoản 2).
Mục đích của Điều 8 là nhằm cấm các hội đoàn độc lập, các hội đoàn bảo vệ nhân quyền, các hội đoàn của những người đối lập… không được thành lập và hoạt động; và tạo điều kiện dễ dàng để chính quyền vu khống, buộc tội tuỳ tiện những người làm nhiệm vụ vận động thành lập các hội đoàn độc lập. Ngoài ra, các điều cấm đoán đã trích dẫn trên đây rất mơ hồ tạo điều kiện để chính quyền toàn quyền diễn giải cách hiểu và áp dụng theo ý riêng của mình.
4/ Vi phạm nguyên tắc tự nguyện và tự quản của hội
Quy định về thẩm quyền của Bộ trưởng Nội vụ và Chủ tịch Ủy ban Nhân dân các cấp trong việc công nhận điều lệ hội và chức danh người đứng đầu hội tại Điều 14 và Điều 31 hoàn toàn mâu thuẫn và vi phạm nguyên tắc tự nguyện và tự quản của hội như đã được công nhận và quy định tại Điều 2 và Điều 6.
5/ Hạn chế vô lý quyền gia nhập hội của người dân
Việc cấm các công dân bị tòa án tuyên cấm tham gia hoạt động về hội hoặc hành nghề thuộc lĩnh vực hoạt động chính của hội, tại Điểm a Khoản 2 Điều 15 là cách hạn chế vô lý quyền gia nhập hội của công dân như đã được công nhận và quy định tại Điều 3.
6/ “Nhà nước hóa” hội đoàn
Chúng tôi cho rằng Hội là một tổ chức xã hội, chứ không phải là cơ quan thuộc bộ máy nhà nước, nên không thể chịu sự quản lý nhà nước của cơ quan quản lý nhà nước về ngành và lĩnh vực hoạt động của mình, như quy định của Khoản 2 Điều 25. Quy định đó mặc nhiên “nhà nước hóa” một tổ chức xã hội dân sự đơn thuần.
7/ Cản trở các hội đoàn độc lập ra đời
Khoản 6 điều 9 quy định một trong những điều kiện thành lập hội là “phải có đủ số người đăng kí tham gia hội tối thiểu theo quy định của Chính phủ” là một sự xâm phạm nghiêm trọng quyền Tự do lập hội. Nếu Chính phủ quy định con số tối thiểu này quá lớn sẽ ngăn cản việc thành lập các nhóm hội nhỏ ngay từ ban đầu. Thực chất, chỉ cần hai người là có thể lập thành một hội.
Khoản 3 điều 9 quy định các hội đoàn ra đời sau thì lĩnh vực hoạt động chính không được trùng lắp với lĩnh vực hoạt động chính của hội đã được thành lập “hợp pháp” trước đó. Điều này một lần nữa tạo ưu thế tồn tại độc tôn của các hội đoàn nằm dưới ô dù của Nhà nước và ngăn cản sự thành lập của các hội đoàn độc lập, không đăng ký hoạt động trong cùng một phạm vi hoạt động.
Khoản 1 điều 10 đề cập đến việc Ban vận động thành lập hội phải có cơ quan Nhà nước có thẩm quyền công nhận là vô lý. Ban vận động thành lập hội có ý nghĩa quyết định đến việc thành lập hội. Ban vận động thành lập hội mà không được chính quyền công nhận thì hội sẽ không bao giờ được thành lập. Đây sẽ là điều kiện để chính quyền loại bỏ ngay từ đầu quyền tự do lập hội của những người bất đồng chính kiến hoặc giới hoạt động nhân quyền.
8/ Về tên của dự thảo Luật
Chúng tôi đề nghị nên đổi tên “Luật về Hội” thành “Luật về Quyền lập hội” để phù hợp với tinh thần của điều 22 trong “Công ước quốc tế về các quyền Dân sự và Chính trị” là công nhận và bảo vệ Quyền tự do lập hội của người dân. Một dự luật về hội đoàn mà không tuân thủ các nguyên tắc quốc tế về Quyền tự do lập hội sẽ là một bước lùi nghiêm trọng trong nỗ lực xây dựng nền pháp trị.
III- Trên đây là ý kiến nhận xét của các tổ chức XHDS độc lập chúng tôi cho bản Dự thảo Luật về Hội. Trong tinh thần tôn trọng sự đóng góp ý kiến của công dân Việt Nam, yêu cầu bộ phận chức năng trả lời chính thức về việc đồng ý hay không đồng ý với những ý kiến này và lời giải thích.
Dựa trên những cam kết của chính phủ Việt Nam trong các công ước quốc tế, chúng tôi vẫn tiếp tục hoạt động và phát triển các hội nhóm của mình, góp phần vào việc xây dựng nền tảng cho một xã hội dân sự; tranh đấu không ngừng để Việt Nam sớm có một hiến pháp thực sự đáp ứng nguyện vọng của đại đa số người dân Việt Nam, một nền luật pháp công minh, một hệ thống chính trị tam quyền phân lập để bảo đảm cho việc thi hành luật pháp minh bạch, công bằng và hợp hiến.
Trong hoàn cảnh đó, chúng tôi hy vọng luôn nhận được sự ủng hộ và bảo vệ từ chính giới các quốc gia tự do dân chủ, các NGO quốc tế và các cơ quan truyền thông quốc tế.
 
Hà Nội, ngày 1 tháng 8 năm 2015
 
Các tổ chức XHDS độc lập sau đây ký tên:
1/ Hội Phụ nữ Nhân quyền Việt Nam, đại diện Huỳnh Thục Vy, Trần Thị Hài, Trần Thị Nga
2/ Bạch Đằng Giang Foundation, đại diện Phạm Bá Hải
3/ Hội Cựu Tù nhân Lương tâm Việt Nam, đại diện bác sĩ Nguyễn Đan Quế và linh mục Pham Văn Lợi
4/ Hội Nhà báo độc lập Việt Nam, đại diện nhà báo Phạm Chí Dũng
5/ Nhóm những người Bảo vệ Tôn giáo và Sắc tộc, đại diện Huỳnh Trọng Hiếu
6/ Nhóm Linh mục Nguyễn Kim Điền, đại diện linh mục Nguyễn Hữu Giải
7/ Hội anh em Dân chủ, đại diện luật sư Nguyễn Văn Đài
8/ Giáo hội Liên hữu Lutheran Việt Nam-Hoa Kỳ, đại diện mục sư Nguyễn Hoàng Hoa
9/ Phong trào Con đường Việt Nam, đại diện Nguyễn Công Huân
10/ Hội Ái Hữu cựu Tù nhân Chính trị và Tôn giáo, đại diện Nguyễn Bắc Truyển
11/ Hội Thánh Tin lành Chuồng Bò, mục sư Nguyễn Mạnh Hùng
12/ Hội Bầu Bí tương thân, đại diện Nguyễn Lê Hùng
13/ Diễn đàn Xã hội Dân sự, đại diện Tiến sĩ Nguyễn Quang A
14/ Tăng đoàn Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, đại diện Hoà Thượng Thích Không Tánh
15/ Sài Gòn báo, đại diện linh mục Lê Ngọc Thanh
16/ Giáo hội Phật giáo Hoà Hảo Thuần tuý, đại diện Nguyễn Vân Điền
17/ Khối 8406, đại diện linh mục Phan Văn Lợi
18/ Bauxite Việt Nam, đại diện giáo sư Phạm Xuân Yêm và giáo sư Nguyễn Huệ Chi
19/ Hội Bảo vệ quyền Tự do Tôn giáo, đại diện Hà Thị Vân
20/ Người Bảo vệ Nhân quyền Việt Nam, đại diện Vũ Quốc Ngữ
21/ Giáo hội Cao Đài giáo độc lập, Toà thánh Tây Ninh, đại diện Chánh Trị sự Hứa Phi, Nguyễn Kim Lan và Bạch Phụng
22/ Mạng lưới Blogger Việt Nam, đại diện Phạm Thanh Nghiên

Vụ án Đỗ Đăng Dư: Công an đã nhổ vào mặt hệ thống pháp luật như thế nào?

  • Cho đến giờ, tất cả các báo viết về vụ án Đỗ Đăng Dư đều giống hệt nhau: Đỗ Đăng Dư chết vì bạn tù đánh! Câu chuyện Đỗ Đăng Dư xem như hạ màn (!) và công an Hà Nội giờ đẩy dư luận theo hướng “khẩn trương điều tra một cách khách quan để kết luận chính xác nhất về vụ việc, xử lý nghiêm đối với hành vi “Cố ý gây thương tích” của Vũ Văn Bình” (người bị qui kết đánh chết Đỗ Đăng Dư).

    Vấn đề không phải chỗ đó và không chỉ chỗ đó. Vấn đề là công an đã nhổ vào mặt hệ thống pháp luật như thế nào. Công an đã thách thức toàn bộ giá trị pháp chế “nhà nước XHCN” như thế nào. Và công an chà đạp như thế nào giá trị nhân bản của “nhà nước pháp quyền” trong đó “công lý, công bằng dựa trên sự công nhận và tiếp nhận hoàn toàn giá trị tối thượng của nhân cách con người, được bảo đảm bởi các thể chế làm khuôn khổ của trật tự tự do, dân chủ và quyền con người, an toàn cho các công dân” (Tạp chí Cộng sản 16-10-2014)…

    Vụ Đỗ Đăng Dư, được báo Tuổi Trẻ (11-10-2015), tường thuật như sau:

    Vụ việc xảy ra vào sáng 5-8-2015. Vào ngày này, công an huyện Chương Mỹ bắt quả tang Đỗ Đăng Dư có hành vi “trộm cắp tài sản” đối với một người hàng xóm. Quá trình điều tra, Dư khai nhận ngoài vụ trộm cắp tài sản này, từ cuối năm 2014 đến thời điểm bị bắt, Dư đã gây ra 4 vụ trộm cắp khác. Bản thân Dư cũng nghiện game, thường xuyên bỏ nhà đi chơi, gia đình không quản lý được và đã kiến nghị cơ quan chức năng có biện pháp ngăn chặn đối với Dư.

    Từ các căn cứ trên, cơ quan cảnh sát điều tra, công an huyện Chương Mỹ đã quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can và ra lệnh tạm giam đối với Dư để điều tra vụ án và phòng ngừa chung. Ngày 7-8, cơ quan điều tra đã tống đạt quyết định khởi tố bị can và ra lệnh tạm giam 2 tháng đối với Dư. Các quyết định này đã được viện KSND huyện Chương Mỹ phê chuẩn”…

    Ở đây, bằng việc “điều tra cả trách nhiệm của cán bộ, chiến sĩ tại trại tạm giam vì để can phạm đánh lẫn nhau mà không kịp thời phát hiện, dẫn đến hậu quả đáng tiếc” (Tiền Phong 11-10-2015) là có thể xoa tay phủi đi cái mấu chốt vấn đề: công an Hà Nội đã hoàn toàn sai ra sao khi tạm giam Đỗ Đăng Dư, một thiếu niên 17 tuổi “hư hỏng” can tội trộm vặt?

    Theo Đ.303, khoản 2 – BLTTHS (Bộ luật tố tụng hình sự): “Người đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi có thể bị bắt, tạm giữ, tạm giam nếu có đủ căn cứ quy định tại các điều 80, 81, 82, 86, 88 và 120 của Bộ luật này, nhưng chỉ trong trường hợp phạm tội nghiêm trọng do cố ý, phạm tội rất nghiêm trọng hoặc phạm tội đặc biệt nghiêm trọng”. Với số tiền trộm 2 triệu đồng, có thể đưa Đỗ Đăng Dư vào nhóm tội phạm “nghiêm trọng do cố ý, phạm tội rất nghiêm trọng hoặc phạm tội đặc biệt nghiêm trọng”?

    Ngoài ra, theo TTLT số 01/2011/TTLT-VKSTC-TANDTC-BCA-BTP-BLĐTBXH ngày 12/7/2001 HƯỚNG DẪN THI HÀNH MỘT SỐ QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ ĐỐI VỚI NGƯỜI THAM GIA TỐ TỤNG LÀ NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN, thì:

    Việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn đối tượng phạm tội vị thành niên phải tuân thủ theo các điều: Đ.91 – Cấm đi khỏi nơi cư trú; Đ.92 – Bảo lãnh; hoặc Đ.93 – Đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm. Nói cách khác, công an không nhất thiết phải bắt tạm giam một trường hợp vị thành niên phạm tội nhẹ như Đỗ Đăng Dư.

    Còn nữa, như những gì các báo chính thống viết, không có bất kỳ thông tin nào cho thấy trong quá trình điều tra một đối tượng vị thành niên như Đỗ Đăng Dư, có sự tham gia của luật sư hoặc người đại diện pháp luật (cha hoặc mẹ). Mà chiếu TTLT số 01/2011/TTLT-VKSTC-TANDTC-BCA-BTP-BLĐTBXH, việc tham gia tố tụng của người bào chữa theo quy định tại Khoản 2 Điều 57, Điều 58 và Điều 305 BLTTHS, thì:

    1. BẮT BUỘC phải có người bào chữa tham gia tố tụng trong các vụ án có bị can, bị cáo là người chưa thành niên. Mọi trường hợp không có người bào chữa tham gia tố tụng trong các vụ án có bị can, bị cáo là người chưa thành niên là VI PHạM NGHIÊM TRọNG THủ TụC Tố TụNG, trừ trường hợp họ hoặc người đại diện hợp pháp của họ từ chối người bào chữa. Người bào chữa có thể là: luật sư; người đại diện hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo; bào chữa viên nhân dân.

    2. Khi giao quyết định tạm giữ hoặc quyết định khởi tố bị can, cơ quan ra quyết định phải thông báo cho người bị tạm giữ, bị can là người chưa thành niên và người đại diện hợp pháp của họ về quyền có người bào chữa.

    3. Người đại diện hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là người chưa thành niên có thể lựa chọn người bào chữa theo quy định của pháp luật hoặc tự mình bào chữa cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo.

    4. Trường hợp bị can, bị cáo là người chưa thành niên hoặc người đại diện hợp pháp của họ không lựa chọn được người bào chữa thì Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát hoặc Tòa án phải yêu cầu Đoàn luật sư phân công Văn phòng luật sư cử người bào chữa cho họ hoặc đề nghị Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tổ chức thành viên của Mặt trận cử người bào chữa, trừ trường hợp người chưa thành niên hoặc người đại diện hợp pháp của họ từ chối.

    5. Trường hợp bị can, bị cáo hoặc người đại diện hợp pháp của họ từ chối người bào chữa thì phải lập biên bản lưu trong hồ sơ vụ án.

    6. Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng phải tạo điều kiện cho người bào chữa thực hiện quyền tiếp xúc, gặp gỡ với bị can, bị cáo là người chưa thành niên theo quy định của pháp luật.

    Chưa hết, theo TTLT 01/2011/TTLT-VKSTC-TANDTC-BCA-BTP-BLĐTBXH ngày 12/7/2001 HƯỚNG DẪN THI HÀNH MỘT SỐ QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ ĐỐI VỚI NGƯỜI THAM GIA TỐ TỤNG LÀ NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN, thì:

    Điều 5. Nguyên tắc xử lý đối với người chưa thành niên phạm tội: Trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử các vụ án do người chưa thành niên phạm tội gây ra, cơ quan tiến hành tố tụng cần thực hiện đúng nguyên tắc xử lý đối với người chưa thành niên phạm tội quy định tại Điều 69 BLHS (Bộ luật hình sự). Đặc biệt cần xem xét việc miễn trách nhiệm hình sự nếu có đủ điều kiện quy định tại Điều 69-Khoản 2 BLHS, giao họ cho gia đình, cơ quan hoặc tổ chức giám sát, giáo dục nhằm giúp họ tự sửa chữa lỗi lầm và tái hòa nhập cộng đồng.

    Mà Điều 69 Khoản 2 BLHS quy định: Người chưa thành niên phạm tội có thể được MIỄN TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ, nếu người đó phạm tội ÍT NGHIÊM TRỌNG hoặc tội nghiêm trọng, gây hại không lớn, CÓ NHIỀU TÌNH TIẾT GIẢM NHẸ VÀ ĐƯỢC GIA ĐÌNH HOẶC CƠ QUAN, Tổ CHỨC NHẬN GIÁM SÁT, GIÁO DỤC.

    Chiếu theo những điều luật nằm trong hệ thống pháp quyền nhà nước VN nói trên thì Đỗ Đăng Dư không chỉ không nên bị bắt tạm giam mà còn có thể được miễn truy cứu trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, kết cục sự việc đã vượt quá xa những gì mà ông Hồ Chí Minh từng nói, bởi sự vi phạm của chính những người thừa hành pháp luật: “Một xã hội có trật tự kỷ cương, một nhà nước mạnh, có hiệu lực nhất thiết không để một giờ, một phút thiếu pháp luật, coi thường pháp luật” (Trang thông tin điện tử Hồ Chí Minh). “Một phút thiếu pháp luật” đó, hậu quả cuối cùng, không chỉ dẫn đến cái chết của Đỗ Đăng Dư mà nó còn như một cú đấm nện thẳng vào mặt hệ thống pháp chế quốc gia. Nó là một thách thức đầy ngạo mạn giữa hành pháp và lập pháp. Nó thể hiện một thái độ kiêu căng “quyền” trong “pháp” chứ không phải “pháp” định chế “quyền” và “quyền” phải tuân thủ và phải luôn trong khuôn khổ của “pháp”.…

    TTLT-VKSTC-TANDTC-BCA-BTP-BLĐTBXH (Thông tư liên tịch; Viện kiểm sát tối cao; Tòa án nhân dân tối cao; Bộ công an; Bộ tư pháp; Bộ lao động thương binh xã hội)…

    Bài viết được sự hỗ trợ pháp lý của luật sư Võ Phước Hoàng (Hoàng Võ Phước). Chân thành cám ơn luật sư.

    http://www.tapchicongsan.org.vn/…/Xay-dung-Nha-nuoc-phap-qu…

    http://hochiminh.vn/news/Pages/news.aspx?ItemID=485

nguồn: danluan.org