Nam Nguyên, phóng viên RFA
2015-06-19
hp-305.jpg

Hiến pháp nước CHXHCNVN năm 1992.

File photo

Bản Hiến pháp gần đây nhất của Việt Nam được ban hành năm 2013 vẫn khẳng định Đảng Cộng sản là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Tuy vậy trên các cơ quan báo chí tuyên truyền của Đảng đã xuất hiện những bài bình luận kêu gọi về điều gọi là phòng ngừa, đẩy lùi nguy cơ tự diễn biến, tự chuyển hóa.

Kêu gọi phòng ngừa

Báo điện tử Quân Đội Nhân Dân ngày 10/6/2015 vừa qua có bài viết mô tả “tự diễn biến” “tự chuyển hóa” nằm trong chiến lược diễn biến hòa bình của các thế lực thù địch. Tuy không nêu cụ thể những thế lực thù địch đó là ai và ở đâu, nhưng tờ báo diễn giải rằng, “tự diễn biến” “tự chuyển hóa” trong nội bộ sẽ tha hóa nhận thức của cán bộ, từ đó dẫn đến những thay đổi về đường lối, chính sách, chuyển hóa chế độ Xã hội Chủ nghĩa ở Việt Nam sang một quỹ đạo khác.

Những bài xã luận như thế trên các công cụ tuyên truyền của Đảng và Nhà nước, thể hiện sự đối nghịch với xu hướng mạnh mẽ về cải cách thể chế mà mấy năm gần đây thường xuyên xuất hiện trên nhiều tờ báo khác cũng do nhà nước quản lý.

Sự mâu thuẫn rất khó hiểu vừa nêu nên được hiểu như thế nào? TS Nguyễn Quang A nhà phản biện độc lập từ Hà Nội nhận định:

Đây là thể hiện một sự đấu tranh ở trong nội bộ của giới lãnh đạo, có những người có tư tưởng cải cách khá thẳng thắn và một nhóm rất là bảo thủ giữ những cái mà thực sự đã bị nhân loại vứt vào sọt rác rồi.
-TS Nguyễn Quang A

“Đây là thể hiện một sự đấu tranh ở trong nội bộ của giới lãnh đạo, có những người có tư tưởng cải cách khá thẳng thắn và một nhóm rất là bảo thủ giữ những cái mà thực sự đã bị nhân loại vứt vào sọt rác rồi. Chuyện như thế này thể hiện trên báo chí chính thống của VN nhiều cơ hôi như thế chỉ không phải mới bây giờ, nhưng có thể nó rộ lên gần đây, sự khác biệt rõ hơn lên. Những hiện tượng như thế tôi cho là lành mạnh. Sở dĩ tôi nói là lành mạnh vì nó bộc lộ ra và trên các phương tiện truyền thông báo chí chính thức nếu dấn thêm một bước nữa là các bên tranh luận với nhau một cách sòng phẳng, không có chuyện mạt sát thì sẽ rất là hay.”

Theo TS Nguyễn Quang A, những chuyện tranh luận như thế đã từng xảy ra ở Việt Nam. Trước đây khi bắt đầu có một chút đổi mới trong đường lối, chủ trương về một số chính sách nho nhỏ của Đảng Cộng sản Việt Nam thì cũng có những người lên tiếng rất là mạnh mẽ và từ trước đến nay diễn đàn của phái báo thủ bao giờ cũng là báo Nhân Dân rồi sau đó là báo Quân Đội Nhân Dân. TS Nguyễn Quang A nhấn mạnh, chuyện này không có gì lạ và chỉ cho thấy sẽ chẳng mấy người muốn đọc những tờ báo này.

Trò chuyện với chúng tôi, nhà giáo Đỗ Việt Khoa ở Hà Nội đã nhận xét về  mối lo sợ ảo gọi là diễn biến hòa bình, tự diễn biến và tự chuyển hóa. Ông nói:

“Bên tuyên huấn của Đảng không nghĩ ra được trò gì hơn ngoài cái cụm từ vô nghĩa như thế, kể cả biết là sai vô lý như thế nhưng vẫn viết. Hiện nay đại bộ phận các vị lãnh đạo lên diễn thuyết ở Quốc hội vẫn cứ nói Việt Nam phải tiến lên chủ nghĩa xã hội. Họ biết thừa là không bao giờ có chủ nghĩa xã hội cả, thế nhưng họ cứ nói. Tôi nghĩ đó là sự nói dối thâm niên lâu đời rồi, nói khác đi thì không còn Đảng Cộng sản nữa họ không còn là đảng viên. Họ nói chống tự diễn biến-tự chuyển hóa nay mai họ còn sáng tạo nhiều thứ chống nữa. Nhưng nhân dân chúng tôi phải hiểu rằng diễn biến hay chuyển hóa đó là sự tiến bộ trong nhận thức xã hội.”

Triệt tiêu mầm mống tự diễn biến – tự chuyển hóa

qdnd-400.jpg
Bài bình luận trên báo Quân Đội Nhân Dân kêu gọi kịp thời phát hiện và triệt tiêu các mầm mống khả năng gây ra tự diễn biến – tự chuyển hóa trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Screen capture.

Bài bình luận trên báo Quân Đội Nhân Dân kêu gọi kịp thời phát hiện và triệt tiêu các mầm mống khả năng gây ra tự diễn biến – tự chuyển hóa trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. “Tự diễn biến” “tự chuyển hóa” về tư tưởng chính trị là hết sức phức tạp đa dạng… theo tờ báo, biểu hiện cao nhất đó là sự suy thoái về tư tưởng chính trị, phủ nhận nền tư tưởng, lý luận của Đảng là chủ ngĩa Marx-Lenin, tư tưởng Hồ Chí Minh; đòi Đảng phải từ bỏ nguyên tắc tập trung dân chủ và thực hiện đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập…

“Tự diễn biến – tự chuyển hóa” trong lĩnh vực kinh tế được báo Quân Đội Nhân Dân mô tả bằng biểu hiện phủ nhận nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, làm mất vai trò chủ đạo của kinh tế Nhà nước, vai trò quản lý kinh tế của nhà nước XHCN; đòi tư nhân hóa nền kinh tế xóa bỏ chế độ công hữu tư liệu sản xuất để thay thế bằng chế độ chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa. Theo bài viết, nếu sự “tự diễn biến” “tự chuyển hóa” trong lĩnh vực kinh tế được đào sâu mở rộng thì đến một lúc nhất định, khi sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa đã giữ vai trò chi phối cơ sở hạ tầng kinh tế, thực chất là chuyển hóa thành kinh tế tư bản chủ nghĩa thì kiến trúc thượng tầng xã hội chủ nghĩa chỉ còn tồn tại trên danh nghĩa và sẽ đổi màu. Báo Quân Đội Nhân Dân nhấn mạnh, khi đó kinh tế xã hội chủ nghĩa được thay thế bằng chế độ kinh tế tư bản chủ nghĩa.

Những lập luận trên báo Quân Đội Nhân Dân cho thấy một sự sợ hãi lớn lao về việc biến mất chế độ chính trị mang tên xã hội chủ nghĩa do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Người đọc báo có thể cảm nhận rõ nét về vấn đề này khi những tư tưởng cải cách dân chủ đã len lỏi vào tận thượng tầng lãnh đạo. Thí dụ báo chí Việt Nam từng đưa tin, Bộ trưởng Bộ Kế hoạch Đầu tư Bùi Quang Vinh phát biểu công khai là làm gì có thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa mà mất công đi tìm. Ông Bộ trưởng đã nói như thế trong bài nói chuyện vào cuối năm 2014 tại Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh ở Hà Nội.

Hay mới đây nhóm nghiên cứu Chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright Saigon đề xuất cải cách ba điểm đối với Đảng Cộng sản Việt Nam để kinh tế có thể phục hồi và phát triển cao. Tóm tắt là Đảng cần phải chấp nhận một xã hội cởi mở, rộng cửa cho trí thức phản biện. Tìm nhân sự lãnh đạo có tài qua quá trình lựa chọn dân chủ, cởi mở và cạnh tranh và sau cùng là cần phải luật hóa vai trò lãnh đạo và hoạt động  của Đảng.

Hoặc hàng loạt ý kiến ghi nhận từ hàng chục các diễn đàn chính thức với lời kêu gọi mạnh mẽ về việc thiết lập nền kinh tế thị trường đúng nghĩa như các quốc gia không theo xã hội chủ nghĩa.

Tự diễn biến-tự chuyển hóa là một việc rất tốt, những người mà luôn luôn to tiếng chống lại diễn biến hòa bình thì tôi không hiểu họ muốn gì, hay là họ muốn chiến tranh muốn một cuộc đấu đá bằng vũ lực để dẹp bỏ nhau ở đây.
-TS Nguyễn Quang A

Tất cả trào lưu hướng tới cải cách cho dân giàu nước mạnh như vừa nêu, sẽ có thể bị chụp mũ “tự diễn biến-tự chuyển hóa” nếu đọc kỹ các bài xã luận của nhóm bảo thủ trên các tờ báo chính thống như Nhân Dân, Quân Đội Nhân Dân.

Nhà phản biện xã hội dân sự độc lập TS Nguyễn Quang A nhận định:

“Tự diễn biến-tự chuyển hóa là một việc rất tốt, những người mà luôn luôn to tiếng chống lại diễn biến hòa bình thì tôi không hiểu họ muốn gì, hay là họ muốn chiến tranh muốn một cuộc đấu đá bằng vũ lực để dẹp bỏ nhau ở đây. Tôi nghĩ chuyện diễn biến hòa bình tức là có một sự cải cách bằng những phương tiện hòa bình, mà thực sự là phải thay đổi chế độ này.

Những người như chúng tôi chẳng hạn thì rất hoan nghênh diễn biến hòa bình và rất mong muốn tìm cách thúc đẩy cho sự tự diễn biến ấy. Bởi vì họ nói những điều ấy ra là chính họ mâu thuẩn với bản thân ông tổ sinh ra lý thuyết mà họ tôn lên bàn thờ, chính cái đấy nó có một điểm cốt lõi là tất cả đều chuyển biến đều thay đổi; bản thân các ông ấy là con người thì cũng phải thay đổi. Cho nên nếu có cuộc tranh luận rộng về diễn biến hòa bình, tự diễn biến – tự chuyển biến thì sẽ rất là thú vị.”

Bài xã luận về điều gọi là phòng ngừa, đẩy lùi nguy cơ “tự diễn biến-tự chuyển hóa” trên báo điện tử Quân Đội Nhân Dân cũng nêu lên một sự kiện khá lạ thường. Đó là thế lực thù địch luôn đặt trọng tâm thúc đẩy “tự diễn biến-tự chuyển hóa” nhắm vào các cơ quan lãnh đạo cao nhất của Đảng, Quốc hội, Chính phủ, là nơi hoạch định ra đường lối, chủ trương, chính sách, chiến lược phát triển đất nước.

Báo Quân Đội Nhân Dân như thường lệ không chỉ ra thế lực thù địch đó là ai mà có khả năng thúc đẩy “tự diễn biến-tự chuyển hóa” ở thượng tầng cấu trúc của chế độ Việt Nam hiện tại. Tuy vậy điều thú vị là báo Quân Đội Nhân Dân nhìn nhận phần lớn quá trình “tự diễn biến-tự chuyển hóa” có nguyên nhân từ bên trong nội bộ của Đảng và Nhà nước và chẳng ai khác chính những con người xã hội chủ nghĩa đã tự quyết định.

Advertisements

Cần nhận định đúng về các cuộc đình công

Nguyễn Quang Duy

PouYuen-dinhcong-622.jpg

Hàng chục ngàn công nhân công ty PouYuen Việt Nam ở Quận Bình Tân TPHCM, bắt đầu đình công từ hôm 26/03/2015 để phản đối việc thay đổi luật BHXH.

Courtesy photo

Phong trào công nhân đã trưởng thành?

Các cuộc đình công liên tục diễn ra tại khu công nghiệp Sài Gòn, Bình Dương, Tiền Giang, Tây Ninh, Long An… khiến nhiều người tin rằng “Phong trào công nhân Việt Nam đã trưởng thành”.

Xin đừng quên cuối năm 2005 cũng đã diễn ra nhiều cuộc đình công đòi tăng mức lương tối thiểu cho công nhân tại các doanh nghiệp do nước ngoài đầu tư, có cuộc đình công lên đến năm, sáu chục ngàn công nhân tham dự.

Việc công nhân khi ấy đấu tranh đòi tăng mức lương tối thiểu không khác gì đình công phản đối chính sách bảo hiểm xã hội lần này. Cả 2 đều là phản đối các chính sách đã được Quốc Hội thông qua và đã thành luật.

Lần trước Phan Văn Khải nhanh chóng đáp ứng yêu cầu bằng cách ký chỉ thị tăng mức lương tối thiểu lên 40 phần trăm. Khi được đáp ứng yêu cầu các cuộc đình công chấm dứt, cuộc đấu tranh lặng xuống, các công nhân đứng ra tổ chức bị sa thải, một số người sau đó bị bắt và có người hiện vẫn đang trong tù.

Các cuộc đình công sau năm 2005 thường ở mức độ nhỏ, tự phát và nhanh chóng chấm dứt. Nhiều người khởi xướng sau đó bị sa thải, có người bị an ninh theo dõi. Quyền lợi của công nhân mỗi ngày bị cắt bớt và đời sống của họ ngày trở nên tồi tệ hơn.

Việc công nhân đình công rồi kéo nhau ra đường lộ với những biểu ngữ tự làm tại công ty Pou Yuen cho thấy việc tổ chức khá lỏng lẻo và tự phát. Đương nhiên có người đứng ra khởi xướng nhưng cuộc đình công xảy ra do sự bất mãn cùng cực của công nhân. Các cuộc biểu tình khác là sự đồng thanh đáp ứng, tức nước vỡ bờ.

Lần này, sau khi Nguyễn Tấn Dũng tuyên bố sẽ kiến nghị lên Quốc Hội sửa đổi Luật Bảo hiểm Xã hội nhằm đáp ứng nguyện vọng công nhân các cuộc biểu tình cũng lặng xuống. Mặc dù Nguyễn Tấn Dũng đã hứa hẹn và cuộc biểu tình rất ôn hòa đã có 7 công nhân tích cực và tiên phong trong những ngày đình công bị bắt giữ.

Bài học năm 2005 cho thấy nếu những người khởi xứơng không biết nuôi dữơng cuộc đấu tranh thì đâu lại vào đó, quyền lợi chính đáng của công nhân lại tiếp tục bị cắt dần và đời sống của công nhân sẽ càng ngày càng tồi tệ hơn.

Trên thực tế cuộc sống của công nhân đã quá eo hẹp, thực lực đấu tranh hết sức hạn chế, vì thế để đấu tranh cho đến khi đạt được kết quả họ cần giảm thiểu mọi thiệt hại và cần sự hỗ trợ từ trong cũng như ngoài nước.

Về lâu dài Công Đoàn là phương tiện để đấu tranh cho quyền lợi công nhân. Công đoàn đại diện cho công nhân đấu tranh đòi giới chủ tôn trọng luật pháp quốc gia, thương lượng với chủ bảo vệ và gia tăng quyền lợi tại mỗi xí nghiệp hay mỗi nghành nghề.

Trong hoàn cảnh Việt Nam hiện nay một công đoàn độc lập với nhà nước cũng sẽ là một phương tiện vận động Quốc Hội đề ra các đạo luật có lợi cho công nhân và vận động Quốc Tế để quyền lợi công nhân được bảo đảm.

Công đoàn còn mang một vai trò khác là nâng cao trình độ nhận thức của công nhân về quyền làm người, về quyền công dân và về quyền lợi của người công nhân.

Một công đoàn đúng nghĩa cũng lo cho từng cá nhân công nhân và gia đình khi bị lâm vào những hoàn cảnh rủi ro hay phải tranh tụng với giới quản lý hay giới chủ.

Tại các quốc gia dân chủ, công đoàn còn thương lượng với các đảng chính trị để đề ra những chính sách có lợi cho công nhân. Tại Úc, đảng Lao động được nhiều công đoàn ủng hộ cả về tài chánh lẫn nhân lực để đảng Lao Động một mặt bảo vệ quyền lợi của người Lao động mặt khác đưa ra chiến lược và chính sách có lợi cho tầng lớp Lao Động.

Công đoàn tại Việt Nam

Hiện nay tại Việt Nam tồn tại hai dạng công đoàn nhưng cả hai đều mang nặng tính chính trị và không thực sự đấu tranh cho quyền lợi của người công nhân.

482015dinhcong1-622.jpg
3.500 công nhân của công ty Shin Sung Vina tại Huyện Đức Hòa, Tỉnh Long An tiếp tục đình công hôm 8/4 để đòi hỏi quyền lợi.

Công đoàn do đảng Cộng sản lãnh đạo thì có mặt tại hầu hết các xí nghiệp. Nhiệm vụ của họ chỉ nhằm thực hiện những chủ trương và nghị quyết do đảng cộng sản đề ra.

Ngược lại, Công Đoàn Độc Lập là một nhóm nhỏ được thành lập nhằm đấu tranh chính trị đòi đảng Cộng sản trả lại quyền lao động cho người công nhân. Việc làm của họ rất cần nhưng chưa đủ. Vì muốn đấu tranh cho quyền lợi công nhân cần có nhiều công đoàn thực sự phát xuất từ người công nhân, phải do người công nhân lập ra, được người công dân nuôi dưỡng và phải đấu tranh cho quyền lợi công nhân.

Những người lãnh đạo công đoàn phải là người được công nhân thương yêu, tin tưởng và bầu lên qua những cuộc bầu cử dân chủ. Họ phải có khả năng đại diện công nhân thương lượng với cả chủ nhân lẫn nhà nước. Các công đoàn lớn người lãnh đạo cần có khả năng làm việc với các công đoàn, chính phủ và tổ chức quốc tế.

Như thế nuốn bảo đảm cho cuộc đấu tranh thực sự vì quyền lợi của người công nhân, những người khởi xướng cần tìm và đào tạo một tầng lớp lãnh đạo công đoàn độc lập trong số những người hiện đang đấu tranh.

Mục tiêu trước mắt là mỗi công ty trung bình và lớn cần có một chi nhánh của công đoàn độc lập. Theo Hiệp Định Đối Tác Thái Bình Dương và Hiệp định thương mại tự do Liên minh châu Âu, Việt Nam phải có những công đoàn độc lập với nhà nước cộng sản. Vì thế mục tiêu này khả thi và nên được xem như ưu tiên hàng đầu.

Công nhân cũng cần sự trợ giúp của truyền thông báo chí, của tầng lớp trí thức và nhất cần một số luật sư sẵn sàng đứng ra cố vấn hay bảo vệ cho công nhân và công đoàn. Vì thế các cuộc đình công phải thuần khiết vì quyền lợi của người công nhân, tránh bị “chính trị hóa” hay bị các đảng chính trị lèo lái sang các mục tiêu khác.

Hiện Việt Nam là một quốc gia độc đảng, nên chưa có một đảng không cộng sản nào đưa ra một cương lĩnh với một đường lối đấu tranh rõ ràng cho quyền lợi của người công nhân. Việt Nam sẽ có đa đảng vì vậy nhu cầu thành lập đảng chính trị phục vụ cho tầng lớp công nhân là một nhu cầu cần được quan tâm.

Nói tóm lại Việt Nam hiện có 5 triệu công nhân, đóng góp của họ cho xã hội cho đất nước vô cùng to lớn. Con số này càng ngày càng tăng nhưng đến nay tầng lớp công nhân vẫn chưa có được tiếng nói chính thức vì thế đời sống cả vật chất lẫn tinh thần của họ càng ngày càng suy giảm.

Đấu tranh cho quyền lợi công nhân là cuộc đấu tranh lâu dài luôn tiếp diễn hằng trăm năm nay và trên toàn thế giới. Việc bùng phát các cuộc đình công trong tuần qua cho thấy tức nước vỡ bờ, vì thế cần nhận định đúng để quan tâm hơn đến nhu cầu lâu dài và thiết yếu của tầng lớp công nhân.

Nguyễn Quang Duy

Melbourne, Úc Đại Lợi

Bóng Tối không nhốt được Ánh Sáng

Nguyệt Quỳnh
2015-06-11

Từ màn đêm mênh mông này chúng tôi đứng dậy

Đứng dậy trên cái bóng cô đơn của mẹ VN

(Chúng tôi đưa mặt trời lên quê mẹ – Hương Giang)

Khi thực dân Pháp xử tử 13 chí sĩ Việt Nam Quốc Dân Đảng ở Yên Bái, người Pháp đã rúng động trước sự dũng cảm và tinh thần ái quốc của tuổi trẻ VN. Mười ba người anh hùng trở thành bất tử ngay phút giây tiếng hô “Việt Nam vạn tuế” của họ vang lên dưới lưỡi máy chém của kẻ xâm lược. Khi CSVN ra lịnh bắt cóc và tống giam một loạt 14 thanh niên yêu nước, dù ngỡ ngàng tôi vẫn nhìn thấy ánh sáng của hy vọng từ những người trẻ này trong cái màn đêm mênh mông của đất nước mình! Chắc chắn con số 14 chỉ là con số chúng ta nhìn thấy được.

Tôi vẫn tin rằng người ta khó có thể giam nhốt được ánh sáng. Quả vậy, từ ấy đến nay nó vẫn toả ra từ song sắt các trại tù, từ thái độ và cách hành xử của các thanh niên ấy, điển hình là các anh Trần Minh Nhật, Trần Hữu Đức, Paulus Lê Sơn v.v…

Việt Nam không khác các thể chế độc tài khác, đã từ lâu khủng bố bao trùm lên tâm trí con người, lên toàn xã hội. Nó được áp giải bởi những bản án phủ xuống đầu những người lương thiện và vô tội. Năm 2013, mười bốn thanh niên ưu tú của đất nước đã phải gánh chịu một bản án được coi là “vụ án lật đổ chính quyền” lớn nhất vào thời điểm đó. Trong bài viết này, tôi đặc biệt muốn nhắc đến ba thanh niên bị lãnh án nặng nhất.

Nguyễn Đặng Minh Mẫn là một thiếu nữ trong ba người ấy. Nếu sự can trường của nàng chủ Thánh Thiên ngày xưa đã khiến cho hào kiệt ba xứ Hải Đông phải tìm về quy phục, thì chúng ta cũng tìm thấy sự can trường ấy ở Nguyễn Đặng Minh Mẫn. Là một thiếu nữ nhỏ nhắn, nhưng cô đã khiến cho quản giáo và bạn tù suốt nhiều dãy phòng của trại giam B34 phải nể phục. Sau 40 năm, nhiều người VN đã quên mất rằng mình đang đứng trên cái di sản bất khuất của lịch sử. Nguyễn Đặng Minh Mẫn không quên điều đó, và chính điều này đã khiến cô trở thành “một người khổng lồ” để những người khác có thể dựa vai. Từ tháng 9/2013 đến nay, biết bao nhiêu lần bị biệt giam vẫn không khuất phục nổi người thiếu nữ nhỏ nhắn, nhu mì, nhưng bất khuất đó.

Học làm nghề thẩm mỹ, nhưng Minh Mẫn còn là một ký giả nhiếp ảnh cổ võ cho công bằng xã hội và nhân quyền. Cô đã đi đến tận những nơi có bất ổn xã hội, hay những cuộc biểu tình chống Trung Cộng để chụp hình đăng tải trên mạng, tạo chú ý cho các sự kiện này. Gia đình tổng cộng có 4 người thì hết cả ba đã bị bắt và bị kết tội với điều 79 bộ luật hình sự “âm mưu lật đổ chính quyền”: bản thân cô, anh trai và người mẹ.

Tòa án Nhân dân tỉnh Nghệ An đã mở phiên tòa sơ thẩm, xét xử 14 14 thanh niên về tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân ngày 9/01/2013
Tòa án Nhân dân tỉnh Nghệ An đã mở phiên tòa sơ thẩm ngày 9/01/2013, xét xử 14 thanh niên về tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân

Thoạt nghe đến vụ án, tôi nghĩ ngay đến hai người phụ nữ VN trong gia đình ấy. Chắc hẳn ngày xưa, trong những câu ru của người mẹ không đơn thuần chỉ có những cánh cò cánh vạc.

Một lần, quản giáo trại giam bắt được hàng chữ Minh Mẫn viết cho mẹ trên cái bo cơm. Biết mẹ đang bị giam trên lầu, và với cái ước mong – một lần nào đó cái bo cơm sẽ mang được nỗi thương nhớ đến mẹ, cô viết : “Bé Ty nhớ má wá” (bé Ty là tên ở nhà của cô). Minh Mẫn bị lệnh biệt giam 15 ngày. Hết hạn, quản giáo buộc cô phải viết đơn xin tha. Minh Mẫn không đồng ý vì cho rằng họ tuỳ tiện bắt giam thì phải tự ý thả, cô nhất quyết không làm đơn xin. Lần lữa đến hết một tháng ròng, quản giáo cuối cùng đành phải thả cô ra.

Án của người thiếu nữ kiên cường này là 8 năm tù giam và ba năm quản chế. Cô hiện đang bị buộc phải lao động cực nhọc tại Trại Số 5, Yên Định, tỉnh Thanh Hoá. Vào ngày 13 tháng 4 vừa qua, theo gia đình cô cho biết Minh Mẫn lại bị kỷ luật, không được nhận thăm nuôi và thăm gặp gia đình. Cô bị biệt giam một lần nữa vì đã phản kháng lại các cán bộ trại giam.

Người thứ hai là anh Phero Hồ Đức Hòa, một người con thuộc Giáo xứ Yên Hòa – hạt Thuận Nghĩa – Giáo phận Vinh. Những ai biết đến Hồ Đức Hoà đều rất mực quý mến và tôn trọng nhân cách của anh. Đó là một người sống cho tha nhân, người hiểu được khổ nạn và hạnh phúc khi vác thập tự trên đôi vai của mình. Là một cử nhân quản trị doanh nghiệp, cử nhân tài chính, kế toán, anh sử dụng thành thạo hai ngoại ngữ Anh, Pháp và là giám đốc công ty chứng khoán Trần Đình.

Ngày Hồ Đức Hoà sống ở Giáo xứ Yên Đại – Giáo hạt Cầu Rầm – Giáo phận Vinh, tệ nạn hút chích tràn lan mà chính quyền sở tại gần như phải bó tay. Anh đã không ngại nguy nan, không màng dị nghị, không phân biệt sang hèn, lao vào giúp đỡ những thanh niên cơ nhỡ cai nghiện. Anh đứng ra tự lực tìm cách đưa các thanh niên này về quê để cách ly họ khỏi môi trường cám dỗ gây tái nghiện. Đặc biệt đối với Trung tâm Khuyết Tật 19-3, anh đã cống hiến hết khả năng, công sức, để gây quỹ xây dựng mới cơ sở, gây quỹ học bổng và quỹ ẩm thực cho các em khuyết tật tại Trung tâm được ăn học như các em khác ở bên ngoài.

Ngay khi còn là sinh viên, Hồ Đức Hoà đã tự nguyện dạy kèm miễn phí cho các em học sinh cấp 2 và cấp 3 ở gần nơi anh trọ học. Vào những kỳ hè, anh đứng ra sắp xếp kêu gọi các anh chị em sinh viên cùng về quê dạy hè. Mục đích là giúp các em học sinh ở quê hệ thống lại kiến thức văn hóa; đồng thời, ôn tập các bài học giáo lý và đạo đức sống với một tinh thần cộng đồng trong sáng và lành mạnh. Anh đã từng tham vấn và trực tiếp hoạt động trong các đề án Andervar cho các vùng nông thôn sâu xa, đặc biệt về các kế hoạch dự án nước sạch. Với tổ chức Hữu nghị Công Giáo Việt Nam -Tây Ban Nha, anh đã tận tụy hỗ trợ nhiều địa phương thực hiện các hệ thống điện-đường-trường-trạm. Anh còn là người đồng sáng lập ra “quỹ phát triển con người” để giúp đỡ các em sinh viên có hoàn cảnh đặc biệt, và phát xe lăn cho những người bị tật nguyền.

Dù đã gần 40 tuổi, Hồ Đức Hoà vẫn còn độc thân. Khi những em sinh viên hỏi đùa anh về chuyện lập gia đình, anh tâm sự: “Giáo hội và xã hội đang cần anh, sao anh bỏ mà đi lập gia đình được, lập gia đình rồi sẽ khó làm việc hơn đó các em ạ”. Hồ Đức Hoà là một người anh lớn, một tấm gương sáng cho cộng đồng và các thế hệ tương lai. Trong một bài viết về anh, một em ở Trung Tâm Khuyết Tật 19-3 đã viết như sau: “Anh Hòa ơi, chúng em đang cần anh, và trong lúc đợi anh về thì đang nhắc nhau về những tấm gương sáng của anh cho cả nhóm”.

Vào 16 giờ chiều ngày 9/1/2013, toà án Nghệ An đã tuyên án anh và anh Đặng Xuân Diệu hai bản án nặng nhất: 13 năm tù giam và 5 năm quản chế.

Anh Phanxico Xavie Đặng Xuân Diệu là một kỹ sư xây dựng, tốt nghiệp Đại Học Bách Khoa Đà Nẵng. Là một giáo dân thuần thành của giáo phận Vinh, Đặng Xuân Diệu còn là thành viên và phó nhóm Bảo Vệ Sự Sống Jean Paul II. Anh đã từng tham gia ký tên chống khai thác bauxite ở Tây Nguyên, biểu tình kêu gọi thả Ts Cù Huy Hà Vũ, biểu tình chống TQ xâm lược… Anh cũng góp sức rất nhiều vào những công tác xã hội như vận động cứu trợ nạn nhân bão lụt ở Nghệ An, Hà Tĩnh, vận động giúp xe lăn cho những bà con khuyết tật, vận động học bổng cho các em học sinh nghèo…

Tháng 9/2014 gia đình và bạn bè đã bàng hoàng khi nhận được tin do những đấu tranh quyết liệt trong tù, Đặng Xuân Diệu đã bị bạo hành và ngược đãi tàn tệ. Có lúc sợ sức mình không vượt qua được, Đặng Xuân Diệu đã gởi lời trăn trối đến người mẹ già thân yêu đang mòn mỏi đợi chờ!

Theo người bạn tù Trương Minh Tam, điều làm anh khâm phục nhất là ý chí kiên cường đấu tranh vì quyền lợi cho các tù nhân khác của anh Đặng Xuân Diệu. Khi anh Diệu vào buồng giam kỷ luật, tù nhân ở đây không được đánh răng, rửa mặt, … Đi vệ sinh họ không có giấy để lau chùi, toàn bộ chất thải của họ để sát bên cạnh và họ phải sống chung với nó suốt mười ngày. Họ phải hít thở trong một bầu không khí ô nhiễm. Hằng ngày, các cán bộ trại giam đưa thức ăn và chút nước rất bẩn thỉu để họ uống. Bên cạnh đó, tù nhân ở đây cũng không được đọc báo, không được xem tivi, không được thăm gặp gia đình. Khi biết điều này, anh Diệu đã tuyệt thực 10 ngày dù phải ở trong điều kiện khắc khổ của buồng kỷ luật. Anh đã làm đơn yêu cầu trại giam phải huỷ bỏ ngay những biện pháp đối xử với con người không bằng một con vật. Sau đó, trại giam đã chấp nhận ý kiến đề xuất của anh và nới lỏng cho anh em tù trong một số vấn đề như: mỗi ngày anh em được đánh răng và rửa mặt; vào mùa hè khi nóng quá có thể lấy khăn mặt lau qua người và làm như vậy hai lần trong một ngày.

Đặng Xuân Diệu không cho mình là một tù nhân, ngay từ ngày nhập trại anh đã không chịu mặc áo tù. Anh cương quyết đấu tranh cho lẽ phải dù có bị nhục mạ, đánh đập. Những điều anh nhắn với mẹ già qua anh Trương Minh Tam đã tỏ rõ ý chí của anh: “Con xin lỗi Mẹ, là người con út trong nhà, Cha mất sớm, hơn 30 năm nay, Mẹ mang trọng bệnh, gia cảnh thì không có gì, đáng ra con phải chu toàn nghĩa vụ làm con, nhưng Đất nước còn lắm nhiễu nhương, Con đã chọn con đường dấn thân cho Dân Tộc cho Tổ Quốc và bị cầm tù vì đi ngược với quan điểm của nhà cầm quyền. Con tin rằng một ngày không xa nữa con sẽ được về cùng Mẹ, Mẹ cố gắng giữ gìn sức khỏe, chờ tin vui, cầu nguyện cho Con nhiều, Con cũng luôn cầu nguyện cho Mẹ và chúng ta cùng cầu nguyện cho nhau Mẹ nhé”.

Anh cùng với anh Hồ Đức Hoà bị khép tội là những người cầm đầu. Quả thật, các anh xứng đáng là con chim đầu đàn của thế hệ hôm nay. Sự quyết tâm chấp nhận đớn đau, tủi nhục và thậm chí là mất cả mạng sống để đất nước và các thế hệ tương lai có cơ hội được làm Người. Các anh chính là điều mà lãnh đạo cộng sản e sợ. Họ sợ thứ ánh sáng lan toả từ những thanh niên bất khuất này nên giam nhốt và đày đoạ họ bằng những năm dài tù tội; với chủ đích đánh xập tinh thần bất khuất của cả người trong lẫn người ngoài tù !?

Tuy nhiên tiếp nối họ, người ta nhìn thấy những người trẻ đang góp mặt càng ngày càng đông trong những cuộc xuống đường đòi quyền bảo vệ lãnh thổ, đòi tự do, nhân quyền; bất chấp những đánh đập tàn bạo càng lúc càng gia tăng. Nhìn Trịnh Anh Tuấn, Nguyễn Chí Tuyến, Đinh Quang Tuyến… chúng ta có quyền tin rằng ngoài kia đang có hàng ngàn những bước chân đồng đội của Nguyễn Đặng Minh Mẫn, Hồ Đức Hoà và Đặng Xuân Diệu.

Anh Vũ, thông tín viên RFA
2015-06-18
Sau tám năm chờ đợi, chiều thứ Ba 25/11 vừa qua thêm 39 người Việt cư trú bất hợp pháp tại Thái Lan đã đặt chân xuống phi trường quốc tế Vancouver của Canada. Đây là đợt thứ nhì. Đợt đầu tiên với 28 người đã tới Vancouver hôm 13 tháng 11, 2014.

Sau tám năm chờ đợi,  thêm 39 người Việt cư trú bất hợp pháp tại Thái Lan đã đặt chân xuống phi trường quốc tế Vancouver của Canada. Đây là đợt thứ nhì. Đợt đầu tiên với 28 người đã tới Vancouver hôm 13 tháng 11, 2014.

Cuộc sống hiện nay của họ ra sao và những người này còn sẽ tiếp tục đấu tranh hay không?

Trong bài thứ nhất, Anh Vũ sẽ giới thiệu về chặng dừng chân đầu tiên của những người tỵ nạn này ở Thái lan và Campuchia.

…Buộc phải rời bỏ quê hương

Sau khi chiến tranh VN kết thúc, do sự sai lầm trong các chính sách chính trị và kinh tế của nhà cầm quyền cộng sản, đã dẫn đến một làn sóng người VN lên đến gần một triệu người bỏ nước ra đi để tìm kiếm cơ hội tỵ nạn ở nước ngoài.

Từ năm 1986, đảng CSVN phải thực hiện một cuộc cải cách kinh tế để thoát ra khỏi bờ vực phá sản. Đời sống kinh tế trong nước có khá hơn, cũng như sau đó các trại tỵ nạn của người Việt ở nhiều nơi trên thế giới bị đóng cửa, các nước không còn muốn nhận thuyền nhân nữa; khi đó cuộc khủng hoảng người tị nạn Việt nam tưởng như đã chấm dứt.

Tuy vậy ít người biết rằng từ đó đến nay, vẫn còn một làn sóng người Việt nam tị nạn chính trị mới. Nhiều người trong số họ buộc phải bỏ nước ra đi, mà các nước trong khu vực Đông Nam Á là chặng dừng chân đầu tiên của họ.

Theo số liệu thống kê, hiện tại ở Thái lan đang có khoảng 950 người tỵ nạn, tương tự ở Campuchia cũng có đến gần 200 người.

Nói về lý do khiến bản thân phải chạy sang Campuchia để tỵ nạn, ông Hồ Văn Chỉnh cho chúng tôi biết:

Trước đây tôi ở tỉnh Vĩnh long, tôi đã bị chính quyền VN bắt cóc từ Campuchia đưa về VN bỏ tù. Sau khi tôi vượt ngục và trốn sang đây thì tôi bị kết án vắng mặt 17 năm, vì liên quan đến việc đấu tranh đòi quyền tự do dân chủ và đòi đa nguyên, đa đảng

ông Hồ Văn Chỉnh

“Trước đây tôi ở tỉnh Vĩnh long, tôi đã bị chính quyền VN bắt cóc từ Campuchia đưa về VN bỏ tù. Sau khi tôi vượt ngục và trốn sang đây thì tôi bị kết án vắng mặt 17 năm, vì liên quan đến việc đấu tranh đòi quyền tự do dân chủ và đòi đa nguyên, đa đảng.”

Anh Hoàng Đức Ái một nhà tranh đấu ở Nghệ An bị truy đuổi nên buộc phải bỏ nước ra đi đến Thái lan, anh nói:

“Lý do tôi phải đến Thái lan tỵ nạn là do tôi là 1 trong 8 người ở Nghệ An đã rải truyền đơn tẩy chay cuộc bầu cử Quốc hội.”

Thân phận tỵ nạn này còn dành cho những người sắc tộc H’mông, vì bị chính quyền đàn áp buộc họ phải từ bỏ tôn giáo mà họ tin theo. Một thầy truyền đạo người H’mông đang tỵ nạn ở Thái lan, yêu cầu được dấu danh tính cho chúng tôi biết. Ông nói:

Một gia đình dân tộc theo đạo Tin Lành, từ vùng Tây Nguyên chạy sang Thái Lan xin tị nạn năm 2010. Sau đó gia đình của anh Siu A Nem và 7 người con khi đến Canada tháng 7 năm 2014 (RFA)
Một gia đình dân tộc theo đạo Tin Lành, từ vùng Tây Nguyên chạy sang Thái Lan xin tị nạn năm 2010. Sau đó gia đình của anh Siu A Nem và 7 người con khi đến Canada tháng 7 năm 2014 (RFA)

“Quê quán của tôi ở VN là ở Lào cai, vì lý do ở VN tôi là một lãnh đạo tôn giáo, đã đấu tranh cho quyền tự do tôn giáo cũng như tranh đấu chống việc chính quyền cướp đất của cộng đồng người H’mông chúng tôi.”

Khó khăn nơi “đất khách quê người”

Những khó khăn của những người bỏ nước ra đi tìm đường tỵ nạn ở nước ngoài khó mà kể hết, vì đối với họ tất cả đều mới lạ. Nói về những khó khăn hiện nay, anh Hoàng Đức Ái ghi nhận:

“Khó khăn thứ nhất là về công việc, mình không có việc làm. Thứ 2 là chính quyền Thái lan họ không cho mình nhập cư, nên nếu mình ra ngoài làm việc thì sợ họ bắt, vì nếu bị họ bắt thì chắc chắn sẽ nguy hiểm. Thứ 3 là vấn đề ngôn ngữ, vì không có ngôn ngữ thì rất khó khăn cho mình.”

Thầy truyền đạo người H’mông tiếp lời:

Quê quán của tôi ở VN là ở Lào cai, vì lý do ở VN tôi là một lãnh đạo tôn giáo, đã đấu tranh cho quyền tự do tôn giáo cũng như tranh đấu chống việc chính quyền cướp đất của cộng đồng người H’mông chúng tôi

Một thầy truyền đạo người H’mông

“Ở Thái lan này thì cuộc sống nói chung cũng có nhiều cái khó khăn lắm, một là mình phải cố gắng đi kiếm việc làm, song vì mình là người sống bất hợp pháp nên người thuê mình làm họ ép giá rất là thấp. Cũng vì Thái lan họ không ký cái Công ước Quốc tế năm 1951 để bảo vệ người tỵ nạn, vì thế chúng tôi sang lánh nạn ở đây thì sự nguy hiểm luôn thường trực 24/24.”

Những khó khăn thì chồng chất như vậy, song việc có được Cao ủy tỵ nạn LHQ (UNHCR) cứu xét để cấp quy chế tỵ nạn cho những người tỵ nạn hay không thì là cả một vấn đề lớn và cũng hết sức khó khăn. Anh Hoàng Đức Ái khẳng định:

“Hiện tại, tình hình những người tỵ nạn ở Trung Đông hay những người tỵ nạn ở VN cũng rất là nhiều, mà Cao ủy (tỵ nạn) ở đây thì làm việc hết sức chậm trễ. Cho nên các hồ sơ tỵ nạn sau này càng lâu hơn vì số người tỵ nạn ngày càng đông. Như lịch phỏng vấn của tôi cũng đã dời lại 2-3 lần, bây giờ cũng đã hết 1 năm rồi.”

Kể cả những trường hợp đã được chấp nhận cho hưởng quy chế tỵ nạn ở Campuchia, song quyết định đó cũng không có hiệu lực. Từ đó dẫn đến tình cảnh những người này vẫn phải sống một cuộc đời vô tổ quốc từ nhiều năm nay. Từ Campuchia, ông Hồ Văn Chỉnh nói với chúng tôi:

“Sau khi UN rút quân thì họ giao tôi lại cho phía Capuchia và họ cấp cho tôi một cái giấy do Phó Thủ tướng ký, nhưng cái giấy này không có hiệu lực gì hết. Bây giờ thì họ khong công nhận, mà họ chỉ công nhận giấy nhập tịch thôi. Do đó hiện tại cuộc sống của chúng tôi cũng hết sức khó khăn và ở Campuchia bây giờ chúng tôi không có tương lai gì hết.”

Tuy nhiên, ở miền đất mới đa số những người tỵ nạn vẫn không từ bỏ công việc đấu tranh của mình, họ vẫn tiếp tục tham gia công việc đấu tranh trong điều kiện có thể. Anh Hoàng Đức Ái bày tỏ:

“Đối với những người tỵ nạn như tôi hay một số người bạn ở đây, hàng ngày vẫn theo dõi tình hình ở VN để tiếp tục đồng hành đấu tranh với những người đấu tranh trong nước. Đặc biệt là đối với các bạn trẻ, bằng những bài viết trên các trang blog.”

Hiện tại, tình hình những người tỵ nạn ở Trung Đông hay những người tỵ nạn ở VN cũng rất là nhiều, mà Cao ủy (tỵ nạn) ở đây thì làm việc hết sức chậm trễ. Cho nên các hồ sơ tỵ nạn sau này càng lâu hơn vì số người tỵ nạn ngày càng đông

Anh Hoàng Đức Ái

Thầy truyền đạo người H’mông cho chúng tôi biết hiện tại số người H’mông tỵ nạn về vấn đề tôn giáo ở Thái lan có khoảng 350 người và ông vẫn tiếp tục đấu tranh để bảo vệ quyền lợi cho bà con sắc tộc H’mông ở trong nước. Ông nói:

“Tôi vẫn tiếp tục hoạt động về niềm tin tôn giáo ở đây. Trước tình hình cộng sản VN đã ngăn cấm không cho đồng bào hoạt động tôn giáo tự do theo ý muốn của người dân thì tôi cũng tìm hiểu các thông tin về vấn đề này để viết các báo cáo để cho các tổ chức Nhân quyền biết, để lên tiếng bảo vệ đồng bào H’mông của chúng tôi.”

Về nguyện vọng chung của những người tỵ nạn hầu như cũng giống nhau, tất cả đều mong nhận được sự giúp đỡ của cộng đồng người Việt nam ở khắp nơi trên thế giới và mong muốn nhanh chóng được đi định cư ở nước thứ 3. Ông Hồ Văn Chỉnh cho biết:

“Bây giờ cộng đồng thế giới hãy lên tiếng để giúp chúng tôi được đi định cư ở nước thứ 3, vì chỉ có thế chúng tôi mới có tương lai cho con cái sau này. Cho đến giờ tôi đã tỵ nạn ở đây 15 năm rồi, mà họ không cho chúng tôi nhập tịch gì hết. Chẳng biết tương lai của chúng tôi sẽ ra sao nữa.”

Được biết không phải chỉ có ở các nước Đông Nam Á, nhất là Thái lan mới có những người VN tỵ nạn về các lý do chính trị và tôn giáo. Tại một số quốc gia thuộc các châu lục khác hiện nay cũng có người tỵ nạn Việt Nam.

Trong bài sau, mời quý vị đón nghe phần tường trình của thông tín viên Tường An từ Paris, về cuộc sống của những người tỵ nạn đến từ VN ở Âu châu và Úc châu.

Từ khi VN tiến hành cải cách về kinh tế vào năm 1986, cho dù nền kinh tế đã phần nào phát triển. Tuy vậy trước việc chính quyền VN tiếp tục, bóp nghẹt các quyền tự do dân chủ và tôn giáo, thì đến nay vẫn có một làn sóng ngầm không ít những người đấu tranh tìm đường trốn khỏi VN để xin tỵ nạn vì lý do chính trị và tôn giáo.

Vì sao các tướng Công an không ủng hộ việc bổ sung quyền im lặng?

000_Hkg10109894-622.jpg

Một phiên họp Quốc hội Việt Nam, ảnh minh họa.

 Quốc hội đã thảo luận dự án Bộ luật Tố tụng hình sự (sửa đổi), tuy nhiên các ĐBQH là tướng công an đều không muốn quy định “quyền im lặng” được bổ sung trong bộ luật này. Tại sao lại có hiện tượng như vậy?

Phương tiện hạn chế bức cung

Tình trạng bức cung, dùng nhục hình của các điều tra viên đã dẫn tới việc có rất nhiều bản án oan sai, đã trở thành hiện tượng phổ biến trong lĩnh vực tư pháp của VN.

Quyền im lặng này nó xuất phát từ một quyền cơ bản của con người, đó là quyền của người bị tình nghi là tội phạm hay người là bị can, bị cáo phải nhận được sự trợ giúp pháp lý ngay từ đầu.
-LS Phan Trung Hoài

Quyền im lặng là một phương tiện quan trọng để hạn chế bức cung, nhục hình – nguyên nhân dẫn đến oan sai trong tố tụng hình sự.

Quyền im lặng là quyền của nghi phạm, của người bị kháng cáo, trong một vụ án có quyền im lặng cho tới khi được tiếp xúc với luật sư hỗ trợ về pháp lý cho mình.

Nói về ý nghĩa của việc bổ sung quyền im lặng của bị can, bị cáo trong Bộ luật TTHS (sửa đổi), từ Sài Gòn LS. Phan Trung Hoài thuộc Đoàn LSVN giải thích:

“Quyền im lặng này nó xuất phát từ một quyền cơ bản của con người, đó là quyền của người bị tình nghi là tội phạm hay người là bị can, bị cáo phải nhận được sự trợ giúp pháp lý ngay từ đầu. Chính vì thế cái quyền im lặng này sẽ cho phép thể hiện trên thực tế họ có quyền chờ luật sư trước lúc cơ quan điều tra tiến hành thẩm vấn đối với họ.”

Hiện nay, Quốc hội VN đang thảo luận việc có nên bổ sung “quyền im lặng” của bị can, bị cáo vào trong trong Bộ luật Tố tụng Hình sự (TTHS). Tuy nhiên đã có vấn đề khác biệt lớn về quan điểm giữa các ĐBQH.

Theo báo Tuổi trẻ, vừa qua Quốc hội thảo luận dự án Bộ luật Tố tụng hình sự (sửa đổi), các ĐBQH là tướng công an đều không muốn quy định “quyền im lặng” trong bộ luật này. Theo đó, quan điểm của ngành Công an là “Luật cần phải tạo điều kiện cho cơ quan tư pháp làm việc, nếu không sẽ xảy ra tình trạng chúng ta bó tay trong cuộc đấu tranh chống tội phạm”. Còn các ĐBQH khác thì cho rằng “quyền không khai báo các nước đã làm hết, còn VN nếu không như thế là hạ thấp quyền của người dân Việt Nam xuống.”

Đây là vấn đề do khác biệt về quan điểm, đánh giá về hiện tượng này, từ Hà nội LS. Trần Thu Nam cho biết:

cong-an-nhuc-hinh-622
5 bị cáo là công an, đã tham gia trong vụ bắt giữ, đánh đập nạn nhân Ngô Thanh Kiều đến tử vong tại phiên xử hôm 27/3/2014.

“Từ trước đến nay, ở VN người ta chưa quen với cách thức làm luật theo cái hướng bảo vệ quyền con người một cách tối đa, như các nước khác. Khi cho rằng khi bản án chưa có hiệu lực thì con người họ vẫn có các quyền của họ. Tuy nhiên ở VN, các bản án được xét xử không dựa trên cơ sở tranh luận, họ đã quen cách thức cũ là người bị coi là phạm tội phải có trách nhiệm trả lời. Và qua nhiều vụ án cho thấy, khi không trả lời theo yêu cầu của họ thì họ sẵn sàng dùng vũ lực.”

Việc đưa “Quyền im lặng” đối với các bị can, bị cáo bổ sung trong Bộ luật TTHS là điều HP đã quy định và hết sức quan trọng, LS. Phan Trung Hoài ghi nhận:

“Theo quy định của pháp luật VN, thì bị can, bị cáo có quyền, nhưng không buộc chứng minh là mình vô tội. Theo quy định của khoản 2 điều 72 của Bộ luật TTHS thì không thể sử dụng lời khai nhận tội của bị can, bị cáo làm chứng cứ duy nhất để kết tội, nếu như nó không thống nhất với các chứng cứ khác trong hồ sơ. Quyền đó là quyền con người, đã được nhà nước VN ký kết khi ra nhập công ước của LHQ về các quyền Dân sự và chính trị từ năm 1966. ”

Quyền tham gia tố tụng của LS sẽ bị vi phạm

Nếu không bổ sung “Quyền im lặng” đối với các bị can, bị cáo thì quyền tham gia tố tụng của LS sẽ bị vi phạm. Nói về các vướng mắc và trở ngại, LS. Phan Trung Hoài cho biết:

“Nhưng vấn đề vướng mắc cụ thể hiện nay là ở chỗ cơ hội của người bào chưa – luật sư tiếp cận với người bị bắt giữ ngay từ đầu, nó có một rào cản rất lớn, đó là trình tự cấp giấy phép chứng nhận người bào chữa. Đến đây thì nó lại phát sinh tình trạng, khi tiếp xúc lấy ý kiến của người bị bắt hay bị tạm giữ nhưng không có sự có mặt của luật sư cho nên chúng tôi thường nhận được cái gọi là giấy hoặc quyết định từ chối có người bào chữa. Vì họ cho rằng, bị can trong giai đoạn điều tra thì chưa cần thiết có luật sư.”

Khi được hỏi, lý do tại sao ngành Công an lại kiên quyết bác bỏ việc bổ sung quyền im lặng của các bị can, bị cáo trong Bộ luật TTHS (sửa đổi)?

Một khi luật pháp công nhận quyền này thì việc phán xử một bản án phải được dựa trên các chứng cứ, đó là một bước tiến để tránh khỏi vấn đề các bản án oan sai.

Với tư cách là một người Luật sư tôi cho rằng cần thiết phải đưa quyền im lặng của bị can, bị cáo bổ sung trong Bộ Luật tố tụng Hình sự và họ có quyền im lặng cho tới lúc có luật sư bảo vệ quyền lợi cho họ.
-LS Trần Thu Nam

LS. Phan Trung Hoài khẳng định:

“Đây là vấn đề thuộc về nhận thức, nhưng rõ ràng nếu hiểu sự tham gia của LS sẽ gây khó khăn cho giai đoạn điều tra tôi nghĩ là không đúng. Nên hiểu, LS thực hiện chức năng xã hội của mình cũng góp phần chống và phòng ngừa tội phạm, để giúp các cơ quan tố tụng xác định sự thật khách quan và bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của con người. Hiểu như vậy để thấy vai trò của LS là phản biện, để đảm bảo phán quyết của tòa án phải xuất phát từ việc tranh tụng.”

Bằng một thái độ thẳng thắn, LS. Trần Thu Nam giải thích:

“Cái nguyên nhân là do thói quen từ trước đến nay họ đã như thế rồi, cho nên bây giờ sửa đổi theo chiều hướng có lợi cho bị can, bị cáo thì họ chưa sẵn sàng về vấn đề tâm lý, về kỹ thuật làm án và khả năng chứng minh tội phạm. Do vì chưa quen nên họ lo sợ quyền im lặng trong Bộ Luật tố tụng Hình sự mới sẽ làm khó khăn hơn trong công việc chứng minh tội phạm, từ đó sẽ dẫn đến việc bỏ lọt tội phạm. Chính vì thế họ đã phản đối rất mạnh về việc ấy.”

Nói về các suy nghĩ của cá nhân, trước việc nhiều khả năng “Quyền im lặng” đối với các bị can, bị cáo sẽ không được đưa vào trong Bộ luật TTHS (sửa đổi) LS. Trần Thu Nam nói:

“Với tư cách là một người Luật sư tôi cho rằng cần thiết phải đưa quyền im lặng của bị can, bị cáo bổ xung trong Bộ Luật tố tụng Hình sự và họ có quyền im lặng cho tới lúc có luật sư bảo vệ quyền lợi cho họ. Tuy nhiên có nhiều nguy cơ quyền im lặng sẽ không được bổ sung trong Bộ Luật tố tụng Hình sự mới. Đó là một điều đáng thất vọng và cũng đáng thất vọng vì có một số những người có chức vụ quyền hạn lại có các phát biểu mang tính chất kém hiểu biết.”

Cũng theo báo Tuổi trẻ, ĐBQH Trần Du Lịch, Phó trưởng Đoàn đại biểu Quốc hội TP.HCM bày tỏ: “Đừng nghĩ rằng vì trình độ thế này chúng ta không nên cải cách. Chúng ta không kém hơn các nước, vấn đề là có tôn trọng quyền của bị can, bị cáo hay không”.

Một vấn để khác cần xem xét đó là, khi ĐBQH là một viên tướng công an thì việc bảo vệ quyền lợi cho người dân sẽ bị lệch lạc. Thay vì làm cho Hiến pháp công minh hơn, thì họ lại bênh vực cho người trong ngành của mình, tìm mọi lý do để làm cho việc điều tra xét hỏi thuận lợi. Bất kể sự thuận lợi đó có dẫn tới ép cung, nhục hình,  khi nghi can không có được quyền tối thiểu của một công dân là quyền im lặng cho tới khi có luật sư bảo vệ cho họ.

nguồn:rfa

Kế hoạch phục sinh Đại Hán Quốc của Tập Cận Bình

Vũ Ngọc Yên (Danlambao) – Ngày 26-5, Văn phòng Thông tin Quốc vụ viện Trung Cộng công bố Sách Trắng về chiến lược quân sự, nêu rõ hải quân nước này sẽ tiếp tục tổ chức và thực hiện các cuộc tuần tra, sẵn sàng chiến đấu thường kỳ cũng như duy trì hiện diện quân sự ở biển Đông. Sách Trắng Quốc phòng của Bắc Kinh đã gây ra phản ứng lo ngại từ nhiều nước, nhất là trong bối cảnh thế giới đang chăm chú theo dõi việc Trung Cộng ngang nhiên xây dựng các căn cứ quân sự trái phép trên các quần đảo không thuộc chủ quyền Trung Cộng. Các chuyên gia chính trị đánh giá việc công bố chiến lược quân sự chỉ là sự tái khẳng định tham vọng bá quyền của một cường quốc trỗi dậy muốn hiên thực hóa kế hoạch “phục sinh Đại Hán Quốc” mà Tập Cận Bình (Xi Jinping) đã phác họa khi đảm nhận vai trò Tổng bí thư đảng cộng sản Trung quốc cách đây hơn hai năm (2013):
– Xây vạn lý trường thành trên biển.
-Thành lập Ngân hàng đầu tư cơ sở hạ tầng Á Châu (Asian Infratructure Invesment Bank- AIIB).
– Thiếp lập Con đường tơ lụa mới gồm hai phần: Vành đai (Hành lang) kinh tế trên bộ và Con đường tơ lụa trên biển.
Tập Cận Bình (TCB) hiện là nhân vật lãnh đạo quốc gia tối cao, giữ các chức vụ then chốt trong guồng máy đảng và nhà nước như chủ tịch nhà nước, Tổng tư lệnh quân đội, chủ tịch Quân ủy trung ương, chủ tịch hội đồng an ninh quốc gia… Với tư cách chủ tịch hôi đồng an ninh quốc gia, TCB chỉ đạo một chính sách đối ngoại, theo hướng quốc gia chủ nghĩa: – Trung Cộng không nhượng bộ Nhật, và các quốc gia láng giềng trong các cuộc tranh chấp hải đảo. – TCB ra lệnh quân đội phải sẵn sàng chiến đấu và phải chiến thắng. So với người tiền nhiệm Hồ Cẩm Đào (Hu Jintao), TCB là người bảo thủ, giáo điều, không chấp nhận đổi mới chính trị và dân chủ hóa đất nước..
Xây vạn lý trường thành mới trên biển
Mỗi năm vào dịp Tết Nguyên Đán, Tập Cận Bình (TCB) ngồi trước bức hình Vạn Lý Trường Thành đọc thông điệp năm mới. Vạn Lý Trường Thành được bạo chúa Tần Thủy Hoàng (250 TCN-210TCN) xây dựng sau khi thống nhất Trung nguyên để một mặt xác định lãnh thổ và mặt khác đề phòng Hung Nô xâm phạm. Nhưng nay biểu tương lịch sử này đối với TCB mang ý nghĩa khác. TCB không muốn Trung cộng an phận tự cô lập. Tập muốn bành trường lãnh thổ, lãnh hải và bằng mọi giá phải đưa Trung cộng lên hàng siêu cường. Cộng đảng Trung quốc cho rằng thời gian giữa hai hội nghị không liên kết ở Bandung (1955-2015) đã có nhiều thay đổi. Trước kia siêu cường Mỹ và Liên xô ngự trị thế giới, nay đã được thay thế bằng Mỹ và Trung cộng. Bây giờ cuộc tranh dành quyền lực giữa hai siêu cường này không còn nằm trong lãnh vực ý hệ Đông-Tây, kinh tế giàu nghèo Nam-Bắc, mà là cạnh tranh ảnh hưởng giữa lực cũ (Mỹ) muốn duy trì vị thế và cường quốc đang lên (Trung cộng) trở thành siêu cường mới.
Dưới mắt TCB, Nga xô dù bị mất địa vị siêu cường vì thất bại trong lãnh vực kinh tế, nhưng vẫn còn là một cường quốc quân sự. Nên Trung cộng muốn trở thành siêu cường không chỉ phát triển kinh tế mà còn tăng cường vũ trang và phát triển quốc phòng, đặc biệt phải hiện đại hóa hải quân và không quân để có thể triển khai tác chiến ở bất kỳ khu vực nào trên các Đại Dương. Biển Đông mang ý nghĩa chiến lược quan trọng sẽ được xây dựng và phát triển thành khu vực đặt dưới sư kiểm soát của Trung Cộng.
Theo Tân Hoa Xã (Xinhua), Sách Trắng Quốc phòng “Chiến lược quân sự Trung Quốc” có nội dung chủ yếu đề cập đến xây dựng lực lượng quân sự, nhấn mạnh phương châm chủ động phòng vệ và tăng cường hợp tác an ninh quốc tế. Trong đó, đáng chú ý là Hải quân Trung Quốc sẽ chuyển đổi trọng tâm từ “phòng vệ ngoài khơi” sang kết hợp giữa “phòng vệ ngoài khơi” và “bảo vệ trên các đại dương” để đối phó “mối đe dọa đối với quyền và lợi ích hàng hải của Trung Quốc”…
Ngoài việc đặt ra vùng nhận dạng phòng không (ADIZ), Trung Cộng trong thời gian qua không ngừng ra sức bồi lấp các bãi đá, xây dựng cơ sở hạ tầng ở biển Đông để biến khu vực “đường lưỡi bò chín đoạn” có diện tích trên 2 triệu cây số vuông thành một thành trì quân sự có khả năng bảo vệ lợi ích của Trung Cộng đối với các nguồn tài nguyên trên biển và trong lòng đai dương mà Trung cộng dựa theo một tấm bản đồ có từ thập niên 1940 tự cho là có chủ quyền.
Đường lưỡi bò trên bản đồ do Trung Quốc tự vẽ và không được các nước liên quan công nhận. Đồ họa: Economist
Trong trường, học sinh được giáo huấn: “Lịch sử thế kỷ quốc nhục của chủng tộc Trung Quốc luôn luôn nhắc nhở chúng ta rằng các giống dân ngoại quốc xâm chiếm chúng ta bằng đường biển. Kinh nghiệm không ngừng buộc chúng ta phải nhớ: chiến hạm xuất hiện từ Thái Bình Dương: tổ quốc chúng ta chưa thống nhất toàn vẹn; cuộc tranh đấu về chủ quyền trên Trường Sa, Diaoyo (Điếu ngư) và biên giới Ấn-Trung vẫn còn tiếp diễn… ta phải xây dựng một hải quân hùng hậu để thu hồi toàn vẹn lãnh thổ và bảo vệ những quyền và đặc quyền về lãnh hải của ta”.Tập Cận Bình cũng đã tuyên bố tương tự khi Trung cộng ngang nhiên cắm dàn khoan HD 981 trong vùng biển Hoàng Sa: “Chính sự yếu kém của quốc gia trong quá khứ đã giúp những kẻ ngoại xâm phá vỡ phòng thủ biên giới trên bộ và trên biển của Trung Quốc hàng trăm lần, đẩy đất nước Trung Quốc đến tận cùng của tai họa” (Bangkok Post 30.06.2014).
Sách Trắng về chiến lược quân sự còn đưa ra cảnh báo trước những đe dọa về quyền và lợi ích mà Trung cộng phải đối mặt sự hiện diện của Mỹ ở Á Châu cũng như sự gia tăng vũ trang của Nhật là những thách đố an ninh lớn nhất đối với Trung quốc nhưng “Trung Quốc sẽ không bao giờ tấn công, trừ khi bị tấn công sẽ phản công”.
Việc thay đổi chính sách đối ngoại (chuyển trục sang châu Á-Thái bình dương) và đưa tàu chiến, máy bay quân sự vào biển Đông cho thấy Hoa Thịnh Đốn đang tìm cách kiềm chế sự trỗi dậy của Bắc Kinh và bản thân Mỹ cũng muốn “hiện diện mạnh mẽ hơn trong khu vực.”
Thành lập ngân hàng đầu tư cơ sở hạ tầng Á Châu (AIIB)
Trong chiến lược lôi kéo đồng minh tranh dành ảnh hưởng trên thế giới, Trung cộng đã khởi xướng thành lập Ngân hàng đầu tư cơ sở hạ tầng Á Châu (AIIB) với vốn thành lập 100 tỷ Mỹ kim trong đó Trung Quốc đóng góp 40%, Ấn Độ đóng góp 10%, các nước châu Á khác đóng góp 25%, 25% còn lại sẽ do các nước châu Âu đóng góp. AIIB được kỳ vọng sẽ chính thức được thành lập với trụ sở tại Bắc kinh và bắt đầu hoạt động vào cuối năm 2015.
Đến nay đã có 57 nước tham gia. Đáng chú ý là trong danh sách này, bên cạnh sự góp mặt của nhiều nước châu Á như Trung Cộng, Ấn Độ, Hàn Quốc, Tân Gia Ba, Phi Luật Tân… còn có 6 nước châu Âu gồm Anh, Ý, Đức, Pháp, Lục xâm Bảo và Thụy Sĩ., Gia Nã Đại cũng đang xem xét khả năng gia nhập AIIB. Như vậy, trong nhóm 7 nước công nghiệp phát triển (G-7) chỉ còn Mỹ và Nhật Bản đứng ngoài cánh cửa của AIIB.
Sự ra đời của AIIB xuất phát từ nhu cầu thực tế khi châu Á là khu vực có dân số lớn nhất thế giới-chiếm 60% nhu cầu về vốn để phát triển hạ tầng., AIIB có tính chất khu vực, có thể phát huy vai trò hỗ trợ bằng việc đáp ứng các yêu cầu đầu tư ở châu Á, thúc đẩy sự phát triển khu vực châu Á không chỉ giúp nhiều người thoát nghèo, mà còn có thể làm gia tăng tầng lớp trung lưu ở khu vực này, tạo ra thị trường tiêu thụ cực lớn cho nền kinh tế khác bên ngoài châu lục. Mỹ lo ngại việc AIIB vận hành tốt sẽ là cơ hội để Bắc Kinh đầu tư cho cơ sở hạ tầng, làm đòn bẩy nâng cao tầm ảnh hưởng của quốc gia này trong khu vực, đe dọa tới vị thế của Mỹ. Vì vậy, Mỹ khuyến cáo các nước đồng minh nên thận trọng trước việc tham gia AIIB, song lời khuyên này trên thực tế đã bị bỏ ngoài tai.
Sự thành lập AIIB là một thế cờ Trung cộng đẩy Mỹ ra ngoài cũng như thoát được chủ trương cô lập Trung cộng qua Hiệp đinh đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP).
Dự kiến mô hình hợp tác trong các dự án phát triển hạ tầng cơ sở có thể mở rộng qua các châu khác như Nam Mỹ, Phi Châu.
Thiết lập Con đường tơ lụa
Theo Reuters, chiến lược Con đường tơ lụa được đưa ra trong bối cảnh nền kinh tế Trung Cộng đang chịu nhiều tầng áp lực, do nhu cầu trong nước thiếu động lực và nhu cầu quốc tế suy giảm. Vì vậy, một trong những mục tiêu của chiến lược này được cho là nhằm giải quyết nhu cầu xuất khẩu của nền công nghiệp Trung Cộng.
Trung Cộng sẵn sàng dùng hàng chục tỷ Mỹ kim thúc đẩy chiến lược Con đường tơ lụa mới. Trong chuyến công du Hồi quốc (Pakistan) của Tập Cận Bình vào ngày 20.04.2015, Bắc Kinh đồng ý đầu tư 46 tỷ USD vào các dự án năng lượng và cơ sở hạ tầng tại nước này.
Trung tâm của các dự án là mạng lưới đường sắt và đường bộ do Trung Cộng xây dựng, nối liền Khu tự trị Tân Cương với cảng Gwadar trên biển Arab thuộc Pakistan. Trước chuyến thăm, Bộ Ngoại giao Trung Cộng cho hay đây là các dự án đầu tiên được phê duyệt của chiến lược Con đường tơ lụa mới.
Chiến lược Con đường tơ lụa mới được công bố lần đầu năm 2013, gồm hai cấu phần là Vành đai kinh tế (trên bộ) và Con đường tơ lụa (trên biển). Chiến lược này nhằm nối ba lục địa Á-Âu-Phi, với một đầu là trung tâm kinh tế Đông Á, một đầu châu Âu – cả hai đều rất phát triển, và các quốc gia nằm giữa có tiềm lực phát triển lớn.
“Vành đai” sẽ giúp nối liền các trọng điểm kinh tế Đông Á, Tây Á và Nam Á. “Con đường” sẽ nối liền hệ thống cảng biển của Trung Quốc và Đông Nam Á, qua Ấn Độ Dương và có thể vươn sang tới Địa Trung Hải..
Con đường Tơ lụa của Trung Quốc.
Ngoài ra, Trung Công còn ký kết hợp tác với Thái Lan xây kênh đào Pananma Châu Á ở miền nam Thái, nhằm rút ngắn hải trình của tầu bè Trung Cộng từ Trung Đông về Quảng Châu. Đây là bước tiếp theo trong chính sách mở rộng vành đai kinh tế Con đường tơ lụa trên biển của Trung Cộng.
Tuyến đường biển dự kiến qua kênh đào Kra Isthmus. Đồ họa: Ifeng.
Theo đề xuất thỏa thuận, kênh đào hai chiều sâu 25 m, dài 102 km, rộng 400 m. Việc xây dựng sẽ hoàn tất trong 10 năm, với chi phí 28 tỷ Mỹ kim. Kra Isthmus được ví như kênh đào Panama của châu Á… Khi kênh đào Kra Isthmus dài hơn 100 km đi vào hoạt động, thuyền bè, đặc biệt là tàu chở dầu Trung Quốc từ Trung Đông xuất phát từ biển Andman ở Ấn Độ Dương, có thể trực tiếp đi vào vịnh Thái Lan, tiết kiệm 1.200 km đường biển, so với tuyến đường hiện tại phải vòng qua eo biển Malacca.
Eo biển Malacca là tuyến hàng hải đặc biệt quan trọng đối với nguồn cung cấp dầu cho Trung Quốc. 80% dầu nhập khẩu vào Trung Quốc từ Trung Đông và châu Phi phải đi qua vùng này, nơi nạn cướp biển hoành hành.
Kênh đào có ý nghĩa chính trị và chiến lược quan trọng đối với Trung Quốc. Dự án không chỉ giúp tăng cường khu vực tự do thương mại giữa Trung Quốc và Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), mà còn giảm sự phụ thuộc của nước này vào khu vực eo biển Malacca, một khi Mỹ có thể phong tỏa tuyến đường biển qua eo biển Malacca, cắt đứt nguồn cung cấp dầu cho Trung Cộng.
Các nhà phân tích chiến lược nhận xét Con đường tơ lụa là con bài đối trọng của chiến lược chuyển trục sang châu Á- Thái Bình Dương của Mỹ. Qua Con đường tơ lụa mới, Trung Cộng tăng cường ràng buộc lợi ích với các nước châu Á, từ đó cạnh tranh với Mỹ, nâng tầm ảnh hưởng của mình trong khu vực.
Thái độ của Cộng sản Việt Nam trước kế hoạch của Tập Cận Bình
Việc Trung cộng ngang nhiên bồi đắp đảo nhân tạo trên quần đảo Trường Sa của Việt Nam và đang hiện thực hóa “đường lưỡi bò” phi pháp trong kế hoạch Tập Cận Bình hầu chiếm trọn biển Đông đã tạo ra bất bình trong dư luận quốc tế. Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Ashton Carter kêu gọi Trung Cộng “ngừng ngay lập tức và vĩnh viễn” các hoạt động xây dựng đảo nhân tạo trên Biển Đông. Ông nhấn mạnh cách hành xử của Trung Cộng trong khu vực hiện nay “vượt ra ngoài” các chuẩn mực quốc tế. Chủ tịch Hội đồng châu Âu (EC) Donald Tusk cho rằng, các hoạt động xây dựng của Trung Quốc trên biển Đông sẽ làm phức tạp nỗ lực giải quyết tranh chấp. Ông Donald Tusk khẳng định lập trường của EU là các bên liên quan phải kiềm chế việc đe dọa hay sử dụng vũ lực, đồng thời nhấn mạnh phải tìm một giải pháp mang tính hòa bình. Washington Post cho rằng thái độ cứng rắn của Mỹ và các quốc gia châu Á trong việc đoàn kết chống lại các yêu sách chủ quyền của Trung Quốc sẽ khiến Bắc Kinh chùn bước.
Riêng Việt Nam là nước bị Trung Cộng lấn chiếm nhiều đảo thuộc hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa lại có phản ứng yếu ớt, nhu nhược. Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Lê Hải Bình tuyên bố (theo báo Nhân Dân ngày 21/5/2015): “Chúng tôi mong các nước liên quan đóng góp có trách nhiệm tích cực, duy trì hòa binh an ninh hàng hải, hàng không trong vùng Biển Đông”. Viên chức này tránh cả việc nêu tên của Trung Cộng là nước đã gây ra cuộc khủng hoảng.
Giáo sư Carl Thayer chuyên gia về Biển Đông tại Học viện Quốc phòng Úc nhận xét thái độ của Cộng sản Việt Nam là đang đi nước đôi: Một mặt, Việt Nam không muốn dính líu trực tiếp vào căng thẳng với Trung Cộng, nhưng một mặt muốn khuyến khích Hoa Kỳ can dự.
Trên phương diện đối ngoại đảng và nhà nước cộng sản Việt Nam vẩn kiên trì chính sách ba không: Không liên minh quân sự; không cho lập căn cứ quân sự ở Việt Nam và không liên minh chống lại bất kỳ nước nào. Chính sách này đã trói buộc quốc gia không tìm được đồng minh tin cậy để cùng chống sự khống chế của Trung Cộng. Về mặt đối nội, Cộng sản áp dụng một chính sách ba không khác: Không chấp nhận đa nguyên dân chủ, không chấp nhận đối lập, không chấp nhận chính đảng nào ngoài đảng CS. Hậu quả đã làm giảm đi nội lực đoàn kết dân tộc.
Hiện nay Việt Nam đang đứng trước thách thức và mối đe dọa vô cùng to lớn về chủ quyền quốc gia. Trung Cộng ngày càng ngạo mạn, bất chấp luật lệ quốc tế gia tăng tiềm lực quân sự, mở rộng các căn cứ quân sự tại Biển Đông. Một mình Việt Nam không thể tự bảo vệ chủ quyền quốc gia cho chính mình và Đảng cộng sản không thể phát huy sức mạnh của dân tộc nếu không sớm dẹp bỏ các chính sách ba không có hại cho đất nước về mọi mặt.
03/06/2015

Cái gốc của vấn nạn Dân oan

RFA3

 
Ngày 14/04/2015 tại Thạnh Hoá (Long An), gia đình ông Nguyễn Trung Can và bà Mai Thị Thu Hương do không đồng ý giao đất để tiến hành công trình bờ kè thị trấn Thạnh Hóa cho chính quyền, khi đoàn cưỡng chế tiến hành thực hiện thì đã có một số người trong gia đình đã chống đối, cho nổ bình hơi hàn và tạt axit đậm đặc làm nhiều công an trọng thương.

Nguyên nhân dẫn tới việc người dân dùng bạo lực để chống lại đoàn cưỡng chế cũng vì gia đình họ không được chính quyền đền bù khu đất vốn của họ đang định cư bị giải tỏa một cách thỏa đáng và công bằng. Theo gia đình nạn nhân cho biết, chính quyền chỉ đền bù 300 ngàn đồng/1m2, trong khi đó bán cho họ đất định cư ở ngay bên cạnh với giá 25 triệu đồng/1m2 tức là cao gấp gần 80 lần giá đền bù. Và cuối cùng một bi kịch đã xảy ra đối với cả những nhân viên nhà nước tham gia cưỡng chế, với hàng chục người bị thương do bị bỏng axit và 07 thành viên gia đình ông Nguyễn Trung Can và bà Mai Thị Thu Hương đã bị bắt giữ và sẽ bị truy tố

Sự việc này làm người ta liên tưởng tới các vụ án Đoàn Văn Vươn ở Hải phòng, người đã dùng vũ khí tự tạo và bình gaz để chống trả lực lượng cưỡng chế từng làm rúng động dư luận cách đây mấy năm. Hay trường hợp của ông Đặng Ngọc Viết, một người dân oan ở Thái Bình, trong lúc tuyệt vọng đã cầm súng đến trụ sở cơ quan quản lý đất đai nã súng vào 5 cán bộ rồi tự sát v.v…. Điều đó cho thấy vấn đề những người dân bị mất đất, mất nhà, mất nơi làm ăn sinh sống… và bị dồn vào đường cùng và cuối cùng họ đã buộc phải lựa chọn sử dụng vũ khí để đáp trả nhân viên nhà nước tham gia cưỡng chế đất đai của gia đình họ trong tâm trạng tuyệt vọng đang là một vấn đề nổi cộm trong xã hội cần phải được các cấp, các ngành xem xét và tìm ra các giải pháp nhằm giải quyết triệt để.

Trước hết cần phải thừa nhận, vấn đề dân oan là sản phẩm đặc thù của xã hội Việt nam, đây là một vấn nạn nhức nhối và dai dẳng của xã hội Việt Nam trong suốt gần 30 năm đổi mới và cho đến hôm nay vẫn chưa thấy lối thoát. Vấn nạn này xuất hiện kể từ khi nhà nước tiến hành việc đổi mới kinh tế, để chuyển nền kinh tế từ hình thái kế hoạch hóa kiểu XHCN theo mô hình cộng sản, sang nền kinh tế thị trường xuất hiện từ năm 1986. Kể từ đó, khi một bộ phận cán bộ nhà nước có thẩm quyền ở các cấp đã cấu kết với các thương nhân, núp dưới danh nghĩa đầu tư các công trình phát triển kinh tế – xã hội để thu hồi và sử dụng một số lượng đất đai rất lớn của nhà nước vào mục đích kinh doanh của mình. Thông qua việc chạy chọt các thủ tục và các hợp đồng ăn chia giữa các cán bộ có thẩm quyền, đất do nhà nước được cấp cho tư nhân với giá đền bù rẻ như cho, kể cả đối với đất đai của người dân đang canh tác hoặc sử dụng thì bị thu hồi và đền bù cho chủ đất với giá rẻ như bèo, cụ thể là đền bù cho chủ đất một phần rồi phân lô bán nền với giá cao hơn gấp cả trăm lần.

Hậu quả của việc thu hồi đất này đã đẩy vô số những người dân hiền lành ra đường để nhập vào đội ngũ dân oan khiếu kiện, vì trong tay họ lúc đó chỉ có một chút tiền đền bù do nhà nước chi trả, trong lúc mọi tư liệu sản xuất để duy trì cuộc sống của họ đã không còn. Trong trường hợp người dân không đồng tình vì giá cả đền bù quá rẻ mạt, họ không có cơ hội để kiếm sống thì chính quyền lấy danh nghĩa các công trình quan trọng của nhà nước để dùng lực lượng công an, thậm chí kể cả quân đội dùng bạo lực để tham gia cưỡng chế. Như ở khu đô thị Ecopark – Hưng yên hay Giáo xứ Cồn Dầu  – Đà nẵng là những dẫn chứng điển hình. Và đối với những người không chấp nhận sự bất công đã cầm vũ khí đứng lên chống trả lực lượng cưỡng chế thì oan nghiệt lại ập lên gia đình họ. Lúc đó họ không chỉ mất nhà mất đất, mà bản thân họ và những người trong gia đình sẽ rơi vào vòng lao lý, tù tội.

Đây cũng là lý do giải thích vì sao hầu hết các đại gia ở Việt Nam hiện nay đều giàu và phất lên từ kinh doanh đất đai và bất động sản. Điểm mặt các doanh nghiệp tầm cỡ ở Việt Nam bây giờ, sẽ thấy các doanh nghiệp này hầu hết liên quan rất ít đến các ngành công nghiệp, dịch vụ, mà chủ yếu liên quan đến đất đai. Sự giàu lên một cách chóng mặt của các đại gia chủ yếu là nhờ vào xin cấp đất của nhà nước để kinh doanh bất động sản. Nguyên nhân sâu xa và là cái gốc của vấn đề dân oan cũng bởi chế độ sở hữu toàn dân đối với đất đai, đây là nguyên nhân của mọi nguyên nhân dẫn tới tình trạng một số ít người giàu lên nhanh chóng nhờ đất và trong khi đó thì có hàng nghìn, hàng vạn người đã bị đẩy ra đường để trở thành những người dân oan.

Vấn đề là ở chỗ, nếu mỗi người dân Việt Nam đều có quyền sở hữu chính danh trên mảnh đất của mình – sở hữu cá nhân, thì lúc đó nhà nước sẽ không thể áp dụng thủ tục thu hồi đất đai hay tổ chức cưỡng chế để thu hồi, mà phải tiến hành thủ tục trưng mua đối với chủ sở hữu. Song với thủ tục trưng mua, sẽ mang lại sự công bằng hơn cho người dân mất đất, nhưng lúc ấy sẽ khó khăn hơn cho người muốn có đất là các đại gia. Đây là lý do vì sao ở các quốc gia khác trên thế giới chúng ta không thấy hiện tượng có một lực lượng đông đảo những người dân bị mất đất, mất nhà, mất cửa… bị đẩy ra đường và tập trung khiếu nại trên đường phố các thành phố lớn như ở Việt Nam.

Điều bất hợp lý của chế độ sở hữu toàn dân mà ai cũng thấy là, người dân vinh hạnh được nhà nước coi là chủ nhân của đất đai, tài nguyên và vùng trời…, song trên thực tế cho thấy người dân hoàn toàn không có quyền định đoạt về những cái đó. Nghĩa là người dân thực sự chỉ có tiếng nhưng không có miếng. Vậy câu hỏi đặt ra là “ai là chủ sở hữu toàn dân”? Theo tất cả các văn bản luật hiện hành thì “Nhà nước đại diện chủ sở hữu toàn dân”. Nhưng một câu hỏi đặt ra tiếp theo là “vậy thì ai là Nhà nước”. Theo quy định thì Nhà nước là một bộ máy và hệ thống tổ chức bao gồm nhiều thiết chế và cơ quan khác nhau, từ ông Thủ tướng cho đến ông Chủ tịch xã. Thậm chí một ông cán bộ quèn của ủy ban xã cũng có thể nhân danh là người nhà nước. Do không làm rõ quyền đại diện, nên trong thời gian vừa qua đã xảy ra tình trạng khá phổ biến, đó là các cán bộ cấp xã cấu kết với nhau cũng có quyền bán đất đai thuộc sở hữu toàn dân. Trong khi những người dân, vốn được cho là chủ nhân của đất đai, vùng biển, vùng trời thì chẳng hề mảy may có chút quyền hành gì.

Chính vì thế, theo chuyên gia Kinh tế Lê Đăng Doanh đã nhận định rằng : “Toàn dân không phải là một pháp nhân, cho nên cần phải cụ thể hóa người chủ sở hữu thật có tư cách pháp nhân là ai, có trách nhiệm giải trình như thế nào, ai giám sát việc thực thi quyền sở hữu ấy? Cần phải tiến tới xác định đa dạng hóa hình thức sở hữu về đất đai. Loại nào là sở hữu toàn dân? Loại đất mà người nông dân đã cày cấy bao nhiêu đời nay thì phải thừa nhận quyền sở hữu của họ chứ! Nếu không rõ ràng, dễ dẫn đến lạm dụng cái sở hữu toàn dân ấy để thu hồi đất, ăn chênh lệch giá, là điều hết sức nguy hiểm.”

Vấn đề sở hữu toàn dân thực sự là một rào cản, đồng thời là nguồn gốc của vấn đề dân oan. Những tồn tại và sự bất cập của loại hình sở hữu này thì ai ai cũng biết và chắc chắn những người lãnh đạo quốc gia đều biết. Song vì loại hình sở hữu mập mờ này vẫn có giá trị trong việc đánh lừa người dân, rằng sở hữu toàn dân là đặc trưng cho xã hội cộng sản, mọi tư liệu sản xuất đều thuộc về sở hữu toàn dân. Nhưng vấn đề cơ bản nhất là loại hình sở hữu này đã giúp cho các quan chức ở các cấp giàu lên nhanh chóng thông qua việc cấp đất cho các ông chủ tư nhân dưới chiêu bài các dự án phát triển kinh tế xã hội ở địa phương.

Tuy vậy. một vài người giàu lên vì những dự án liên quan đến đất thì cũng có hàng nghìn, hàng vạn người mất đất mất nhà, mất cửa. Với giá cả và các chính sách đền bù như hiện nay thì sẽ còn vô số những dân oan xuất hiện và trong số đó sẽ còn không ít người quá uất ức sẽ chống người thi hành công vụ, sẽ dẫn đến việc gây thương tích nghiêm trọng cho nhân viên nhà nước và bản thân họ sẽ lâm vào cảnh khốn cùng và có thể kết thúc trong vòng tù tội. Đã đến lúc, câu hỏi về giải pháp công bằng cho người dân trong các dự án thu hồi đất để phát triển kinh tế – xã hội cần phải có câu trả lời thỏa đáng từ phía nhà nước. Vấn đề đất đai thuộc sở hữu toàn dân cần phải được xem xét hủy bỏ, để thay bằng các chủ sở hữu thực sự và phải là một thực thể pháp lý cụ thể. Khi đó, việc nhà nước thu hồi đất của dân để tiến hành các dự án phát triển kinh tế xã hội sẽ phải thông qua thủ tục trưng mua theo giá cả mà cả hai phía đều có thể chấp nhận được. Chỉ có như thế thì mới có thể giải quyết tận gốc vấn đề dân oan khiếu kiện như hiện nay.

nguồn: Kami’s blog

Phan Châu Thành (Danlambao) – Năm 2015 đã lừng lững bước một chân vào lịch sử nhân loại với bao tín hiệu cho thấy một giai đoạn biến động lớn đang ở ngay phía trước (2016-2018): cuộc đấu lớn Mỹ-Tàu-Nga-EU-Nhật chuyển gia đoạn “ngửa bài” và nâng cấp độ ở Ucraine, Biển Nhật bản, Biển Đông và trong lòng nước Tàu…; đám cháy ISIS trên tro tàn Al-Queda đang bùng phát; cả châu Á, châu Phi và Nam Mỹ đang thành trận địa chiến tranh ngầm giữa hai thế lực Dân chủ với cộng sản/hậu cộng sản, với cuộc chiến giá dầu thấp đang diễn ra khắp nơi và không chừa một ai… Với Việt Nam nói chung và những người dấn thân vì Dân chủ cho VN nói riêng, điều đó dường như càng rõ ràng hơn bao giờ hết và đang hứa hẹn những cơ hội, thử thách thức lớn phía trước…
Như mọi người dân Việt, tôi vô cùng quan tâm đến vận mệnh đất nước đang ngàn cân treo sợi tóc: bước lên con đường Dân chủ hay đi vào kiếp nô lệ Tàu-Việt cộng sâu đau hơn nữa đến muôn đời – đến chừng nào Tàu cộng và Nga Pu sụp đổ… Vì quan tâm tôi nên đau đáu quan sát phong trào dân chủ rất non trẻ của Việt Nam hôm nay và hy vọng… (Hy vọng là bệnh tình cố hữu của dân tộc Việt Nam đang tuyệt vọng cả thế kỷ nay rồi, tôi không ngoại lệ…). Và càng quan sát tôi càng “quan ngại”, càng vô cùng lo lắng… Tôi lo lắng đến nỗi thấy cần phải đưa ra quan điểm của mình từ sự quan tâm, những quan sát và suy tư, nỗi quan ngại cá nhân về những bệnh tình (đang có, theo tôi) trong phong trào dân chủ của người Việt mà tôi gọi là những “bệnh cộng sản” – vì thấy trước đó chúng cũng đã và đang là dịch bệnh của đảng và chế độ, xã hội cộng sản VN này…
Thứ nhất, đó là bệnh mất đoàn kết. Dù có lẽ đây dường như đã là bệnh cố hữu của người Việt (?), dân tộc tự xưng có truyền thống và văn hóa lá “lành đùm lá rách”, nhưng với thời cộng sản 70 năm qua thì bệnh này bùng phát như dịch ghẻ trên thịt da dân tộc, mà kết quả là chưa có giai đoạn lịch sử nào mà người Việt lại giết hại và thù hận người Việt nhiều, tràn lan và “vô cớ” như vậy. Tính theo số người chết tuyệt đối bởi người Việt (có thể đến hàng vài triệu) hay tỷ lệ tương đối đều chắc chắn là… vô địch, hoặc á quân (chỉ sau Polpot về tỷ lệ tương đối, sau Tàu cộng về con số tuyệt đối…). Có lẽ nếu đem con số này ra thế giới, người Việt có lẽ đã lập giải Guiness hoặc được giải Phản Hòa bình-Phản Nobel…
Những người dấn thân vì Dân chủ cho Việt Nam có lẽ hiểu rõ lý do mất đoàn kết dân tộc trên là do cộng sản gây nên nặng nề thêm, vậy mà tôi đau lòng thấy phong trào dân chủ VN cũng không đoàn kết được. Tại sao? Ngoài những lý do cá nhân với cá nhân, thì sự mất đoàn kết nói chung của phong trào còn do sự thiếu tin tưởng của các nhóm với nhau. Tình trạng trên còn được khai thác và tạo ra bởi chính cộng sản nữa. Điều đó đưa đến việc xây dựng đoàn kết của phong trào dân chủ trước hết và hàng đầu chính là việc… phản gián – chống cộng sản trong hàng ngũ dân chủ. Chính vì phong trào dân chủ đòi độc lập VN những năm 40s không ý thức được vấn đề phản gián chống cộng sản trong hàng ngũ của mình (mà lại ngây thơ liên kết với cộng sản!) nên đã bị cộng sản… nuốt chửng. Bài học đau thương bậc nhất lịch sử phong trào dân chủ hay lịch sử Việt Nam nói chung đó còn nguyên giá trị. Ý của tôi là, hỡi tất cả tổ chức, cá nhân đang đấu tranh dân chủ cho VN hôm nay, hãy nhìn lại mình và tỉnh táo thanh lọc các phần tử cộng sản trong (tổ chức) mình, để có thể đoàn kết (các tổ chức) với nhau tạo thành phong trào chung. Nếu phần tử cộng sản chính là những kẻ đã lập ra tổ chức dân chủ mà bạn đang tham gia, thì việc tốt nhất là hãy rút ra để bảo toàn lực lượng là chính bản thân bạn! Tất nhiên, phản gián-phản cộng sản không cần bằng bạo lực (dây thừng, dao, súng… như cộng sản), mà chỉ cần bằng sự minh bạch và tẩy chay bất bạo động, công khai: tôi biết anh là cộng sản nên tôi không chơi với anh hay chúng tôi không chấp nhận anh vào tổ chức…
Thứ hai, đó là bệnh cục bộ, phe nhóm. Tất nhiên, cộng sản VN hay bất cứ CS nào khác cũng rất đặc thù với bệnh này: chúng thay đoàn kết chung bằng “đoàn kết phe nhóm” – tức là đoàn kết cục bộ nhóm nhỏ, nhưng mất đoàn kết cả phong trào, toàn đảng. Chưa bao giờ có đảng CS nào có sự đoàn kết toàn đảng cả, vì chỉ có sự đoàn kết cục bộ của các nhóm nhỏ chóp bu, trong đó nhóm mạnh nhất do có thể dùng bạo lực thống trị các nhóm nhỏ khác và dùng tuyên truyền để lừa bịp đa số còn lại (bằng thanh trừng, chuyên chính, học tập, cải cách, phê và tự phê…). Chúng ta đang thấy bệnh tình này trong phong trào dân chủ (phần “đoàn kết cục bộ”): các phe nhóm hay tổ chức đả phá nhau.
Lẽ ra, nếu đã cùng mục tiêu dân chủ cho VN thì: thứ nhất, là đã cùng chấp nhập sự khác biệt của nhau rồi (dân chủ không chỉ là ai cũng được mở miệng mà là chấp nhận sự khác biệt – tức là cả lắng nghe và tôn trọng sự mở miệng của người khác nữa, thì họ mới nghe và tôn trọng khi mình mở miệng chứ); thứ hai, sự khác nhau đó phải được để sau/dưới mục tiêu chung là dân chủ chứ, phải không làm tổn hại đến phong trào dân chủ chứ?; và thứ ba, sức mạnh của phong trào dân chủ không đến trực tiếp từ sự đoàn kết của các cá nhân đấu tranh dân chủ, mà đến từ sự đoàn kết của các nhóm, đội, tổ chức dân chủ với nhau. Nói cách khác, phong trào dân chủ là cuộc chơi phạm vi toàn xã hội, là cuộc chơi của số đông, của sự liên kết động (cho một/những mục tiêu tức thời cụ thể) của các tổ chức xã hội dân sự dân chủ vì mục tiêu dân chủ cụ thể, ví dụ: Đoàn kết ủng hộ nhân dân Vĩnh Tân, Tuy Phong biểu tình chống nhà máy điện than ô nhiễm của Tàu đến thắng lợi (ô nhiễm được xử lý)! Chúng ta chưa thấy sự đoàn kết trong hành động của các tổ chức dân chủ với nhau, nên gọi là phong trào dân chủ là còn gượng ép… Tóm lại, những nhà đấu tranh dân chủ tiên phong không nên có mục đích gom kết các tổ chức dân chủ thành một mà hãy đề ra và thực hiện mục tiêu sẵn sàng liên kết với các tổ chức khác trong những hành động chung để đạt được các mục tiêu dân chủ cụ thể mà thực tế cuộc sống phản dân chủ của cộng sản “tự nó đưa ra” qua các sự kiện tranh chấp dân chủ, nhân quyền giữa chính quyền và dân…
Tất nhiên, bệnh cục bộ cũng được một phần cố tình tạo nên và khai thác bởi cộng sản, để chúng dễ kiểm soát, chia rẽ, và tiêu diệt cả phong trào. Cách đối phó với bệnh này vì thế cũng cùng một loại thuốc kháng sinh liều cao như bệnh trên: phản cộng gián.
Thứ ba, bệnh không minh bạch. Nếu không minh bạch là bệnh cố hữu của cộng sản vì mục tiêu của chúng luôn không minh bạch, thì với phong trào dân chủ bệnh này lẽ ra không thể có – vì mục tiêu chung rất rõ ràng: Dân chủ cho VN.
Sự không minh bạch của mỗi cá nhân với tổ chức thể hiện trong quan điểm đấu tranh, trong lý lịch xuất thân và trong cách quản lý hoạt động, mà nền tảng là quản lý tài chính để hoạt động. Sự không minh bạch của tổ chức với cá nhân là cách tổ chức và hoạt động tùy tiện, không nhất quán theo điều lệ (hoặc không có điều lệ), và sự mờ ám về lý lịch của nhân sự lãnh đạo. Sự không minh bạch được biện minh bằng bối cảnh hoạt động bí mật hiện nay, vì sự an toàn của các tổ chức dân chủ. Có đúng thế không?
Phong trào đấu tranh dân chủ thực sự luôn hoạt động trên hai nguyên tắc bất bạo động và tự nguyện. Để các thành viên tham gia tự nguyện thì đó chính là mục đích dân chủ và cần đảm bảo hai nguyên tắc trên. Sự minh bạch trong thực hiện mục tiêu là điều kiện cần và đủ để các cá nhân dấn thân cho tổ chức, phong trào. Như vậy, không có minh bạch thì không có tổ chức tồn tại, vì không có hoạt động Vì thế, không thể nói vì an toàn tổ chức mà hạn chế sự minh bạch được. Có thể không sợ sai mà kết luận bất cứ tổ chức nào không minh bạch đều không phải là tổ chức dân chủ hay vì dân chủ được, mà thường là ngược lại. Tất nhiên, sự không minh bạch trong các tổ chức và hoạt động vì dân chủ luôn được cộng sản cố gắng tạo ra và khai thác tối đã cho mục tiêu phản dân chủ.
Không minh bạch là căn bệnh trầm kha và nguy hại cho các tổ chức dân chủ, và cả phong trào dân chủ, không kém gì hai căn bệnh trên, và tất nhiên nó cũng mang đặc thù rất cộng sản. Cách chữa ư? Đơn giản: Phải minh bạch tối đa, không có lý do để bí mật nội bộ – vì “giữ bí mật” với ai đó đồng nghĩa loại bỏ cá nhân đó khỏi tổ chức. Vậy thì, hoặc bạn có lý do để loại bỏ ra ngoài tổ chức một cá nhân nào đó, hoặc bạn có nghĩa vụ phải minh bạch với họ – thì bạn mới có sự tham gia của họ trong tổ chức dân chủ của bạn.
Thứ tư, bệnh háo danh và hình thức. Phong trào dân chủ VN hôm nay còn rất yếu và non kém, thế nhưng nếu cứ nghe chúng ta nói về mình thì như là ngày mai hay tháng sau, chậm nhất là năm sau chúng ta sẽ “giành được chính quyền từ tay cộng sản” vậy. Thứ nhất, với chế độ dân chủ mà chúng ta nguyện dấn thân thì chính quyền dân chủ không phải là thứ có thể giành cướp được như cộng sản đã làm – đó chỉ là chính quyền bạo lực cộng sản, mà là do dân trao cho những người được dân tin cậy; thứ hai, cái áo không làm nên thầy tu.
Suốt hơn hai chục năm qua tôi quan sát nền kinh tế quốc doanh “đổi mới” của CSVN, hễ cứ đơn vị nào nổi đình đám và tự nhiên “tha đâu về” các “giải thưởng quốc tế” nhất này nhất nọ thì y như rằng một thời gian ngắn ngay sau đó các đơn vị đó lụn bại, phá sản, biến mất, các sếp lớn thì ra tòa, vào tù… nên tôi coi các “giải thưởng quốc tế” là báo hiệu xấu. Tuy nhiên, với phong trào dân chủ tôi không nghĩ thế. Nhưng qua thực tế quan sát các cá nhân nổi tiếng dấn thân cho phong trào dân chủ cho VN, nếu được giải thưởng quốc tế nào đó thì y như rằng sau đó họ…lặn tăm, không còn dấn thân được như trước nữa. Danh sách này khá dài mà tôi không cần kể ra, mà lẽ ra sau khi nhận được các giải thưởng quốc tế danh giá thì sự nghiệp dấn thân vì dân chủ của họ càng phải có thành quả lớn hơn chứ – như Lech Walesa hay Ang Sui Kuy sau khi nhận giải Nobel Hòa Bình ít lâu đã góp phần làm thay đổi cả chế độ của quốc gia mình (và vài nước khác – như với Lech), chứ? Nhưng không, các giải thưởng quốc tế không hứa hẹn thành công tiếp theo của các cá nhân đó, và không làm cục diện phong trào đấu tranh dân chủ VN được cải thiện chút nào, ngoài…làm đẹp phong trào. Nhưng có vẻ chúng ta rất sính các giải thưởng quốc tế, nhiều người còn nghĩ người Việt dân chủ có người xứng đáng được giải Nobel Hòa Bình nữa, và cần giải Nobel Hòa Bình để phong trào dân chủ VN thành công?! Tôi nghĩ đây là một dạng biến thái của bệnh hình thức và háo danh cũng rất “đặc thù cộng sản” trên.
Bệnh hình thức thường thể hiện ở chỗ tên thì “to” và “kêu” nhưng tổ chức thì lèo tèo có vài người và không có hoạt động độc lập, chỉ lo họp hành cãi cọ nhau về các “chức vụ” trong tổ chức là chính, khi cần khi có sự kiện thì không thấy mặt ai…
Tại sao? Và chữa “bệnh” này bằng cách nào? Háo danh là một bản tính của con người – thích có danh, chỉ cần mỗi cá nhân biết tự kiểm soát đừng khoác lên mình lên nhau danh hão là ổn, và các nhóm hay tổ chức dân chủ cũng đừng lấy danh hiệu hay giải thưởng cá nhân để thổi phồng lên làm tài sản chung để “động viên phong trào”, biến từ háo danh thành bệnh hình thức. Bởi vì, cuối cùng – như các đơn vị kinh tế của CSVN, toàn do các “anh hùng lao động” lãnh đạo nhưng nền kinh tế thì phá sản – tất cả được đo bằng kết quả, phong trào dân chủ không nên đi vào con đường sưu tầm “giải thưởng quốc tế” như thế…
Thứ năm, bệnh “tài chính”. Nói đúng ra là bệnh yếu kém về tài chính của các tổ chức dân chủ. Cộng sản khi còn hoạt động bí mật, chúng rất yếu kém về tài chính, nhưng chúng đã đi xin, đi lừa, đi cướp của dân, dù cũng không ăn thua (từ 1930 đến 1940). Từ đầu những năm 40s chúng (qua Hồ Tàu) được Tàu cộng hỗ trợ hùng hậu về cả tài chính, nhân lực, và cả sách lược lừa-cướp-giết dân nên chúng mạnh lên nhanh chóng và giết hàng vạn người giàu và đối lập hay trung lập để cướp tài sản, chúng cướp được chính quyền năm 1945-1946 trong ngơ ngàng của dân Việt. Cướp được chính quyền ropoif thì chúng ăn cướp toàn dân công khai. Đó là sức mạnh tài chính của cộng sản. Đến nay chúng đã biết sức mạnh tổ chức bạo lực như đảng CS là dựa trên hai chân: sự lừa bịp và sức mạnh tài chính (nuôi súng đạn), nên chúng càng ra sức lừa và cướp của dân Việt tàn bạo hơn nữa…
Các tổ chức dân chủ VN hiện nay cũng đang rất yếu kém về tài chính, tạo nên cái tôi gọi là căn “bệnh tài chính” nhưng lại không thể đi lừa, đi cướp, đi giết người được. Thế nào là yếu kém về tài chính? Yếu là không có đủ thực lực tài chính để hoạt động, và kém là không ý thức được vai trò quan trọng và cơ bản (tuy không quyết định) của tài chính trong tổ chức và hoạt động dân chủ để mà xây dựng thực lực tài chính.
Một tổ chức dân chủ tự sinh ra có nghĩa là nó có thể hoạt động độc lập về tài chính (tự sinh để tự sống). Nếu nó không có sự độc lập tài chính từ khi sinh ra đó (không có nguồn thu luôn lớn hơn chi phí hoạt động) thì nhiều khả năng nó không phải tổ chức độc lập – nó bị chi phối bởi kẻ cung cấp nguồn tài chính đó (như là CS Tàu nuôi Hồ và cộng sản Việt từ 1940 nên hoàn toàn khống chế cộng sản Việt từ đó đến nay – chỉ có nợ tài chính của CSVN đối với CS Tàu là tăng lên vô hạn – tức lệ thuộc vô hạn). Đa số các tổ chức dân chủ VN hiện nay thiếu tài chính nhưng họ không ý thức được rằng điều đó làm họ sẽ bị lệ thuộc về đường lối đấu tranh, và cuối cùng làm sai lệch mục tiêu vì dân chủ ban đầu, nhiều khi “đấu tranh dân chủ trở thành dấu tranh để có tài trợ (tài chính) cho đấu tranh dân chủ” – tức là, chua xót thay, vì “tài chính”.
Lẽ ra, để thành công (hay ít ra là phát triển) trong đấu tranh dân chủ, những nhà dân chủ bên cạnh việc lập ra tổ chức của mình thì trước hết phải giải bài toán tài chính cho hoạt động dân chủ, sao cho với số vốn tài chính đóng góp ban đầu để hoạt động dân chủ thì càng hoạt động số vốn đó (bằng cách nào đó) phải ngày càng sinh sôi một cách tự động. Có như thế tổ chức mới đạt được hai mục tiêu phụ cho mục tiêu chính là dân chủ, đó là: có nguồn tài chính đủ để hoạt động phát triển (gia tăng) và hoạt động đó độc lập về nội dung, phương cách (vì không bị ai chi phối qua tài trợ tài chính). Thành lập và điều hành một tổ chức dân chủ, vì thế, như là và chính là thành lập và điều hành một công ty kinh doanh hiệu quả kết hợp với một đoàn thể hoạt động vì dân chủ, trong đó công ty nuôi đoàn thể, hay tổ chức dân chủ độc lập dựa trên hai chân của mình: hoạt động dân chủ và (hoạt động) tài chính.
Ví dụ: Một tổ chức dân chủ chuẩn bị thành lập dự kiến trong 3 năm đầu tiên hoạt động sẽ cần chi phí là 200, 400 và 600 triệu đồng trong khi dự kiến các thành viên và cả tổ chức sẽ chỉ tự đóng góp hàng năm max được 50% số tiền cần thiết đó, còn 50% làm sao đây? Có hai cách: một là giảm như cầu chi phí dự kiến xuống 50% như mức dự kiến có thể đóng góp và huy động, và hai là tạo ra một doanh nghiệp từ vốn góp ban đầu của các thành viên tổ chức sao cho doanh nghiệp đó có thể phát triển và đem lại thu nhập ròng bằng hay trên 50% số tiền cần cho hoạt động hàng năm. Doanh nghiệp do chính tổ chức sở hữu và điều hành gián tiếp qua đại diện. Cách một thường sẽ phá sản ngay năm đầu tiên vì không ai có thể đóng góp cho tổ chức mãi trong khi một số sẽ không đóng góp gì (vì không thể) mà chỉ tiêu…mãi. Cách hai rất khả thi, thậm chí dễ làm vì lúc đầu luôn có những người bỏ ra tài trợ khoản tiền lớn (ví dụ 500 triệu đến 1 tỷ đồng hay hơn nữa) cho tổ chức vì dân chủ, và đó là số tiền cần cho vào doanh nghiệp để lấy tiền lãi nuôi tổ chức hoạt động… Vấn đề chỉ là các nhà đấu tranh dân chủ có ý thức được tầm quan trọng của vấn đề tài chính cho hoạt động độc lập ngay từ đầu hay không, mà thôi.
Hiện nay các tổ chức dân chủ khi thiếu nguồn tài chính để hoạt động là phải dựa vào hai nguồn tài trợ trong nước và ngoài nước. Ngoài sự phụ thuộc vào hai nguồn đó thì nguy cơ các nguồn đó xuất xứ hay liên quan đến hoạt động chống phá dân chủ của cộng sản là rất cao. Và vì thế, vì không tự chủ tài chính, các hoạt động vì dân chủ thường phá sản từ trong trứng nước, mà ít khi người ta nhận ra lý do yếu kém tài chính đích thực (và bị khai thác) đó.
Khía cạnh khác của “bệnh tài chính” là sự phụ thuộc hay có tự do tài chính của từng cá nhân của tổ chức dân chủ, nhất là các cá nhân điều hành tổ chức. Một nhà dân chủ, tức là dấn thân đấu tranh cho tự do con người, có thể có tự do tài chính cá nhân (có nguồn thu nhập để sống và hoạt động mà không cần phải làm việc) hoặc không (vẫn phải lao động để sống). Nhà dân chủ có tự do tài chính có thể sống và hoạt động không cần hỗ trợ tài chính của tổ chức (trừ các chi phí cho hoạt động đặc biệt và không liên quan đến sinh hoạt của cá nhân đó) thì là lý tưởng nhất, vì có thể cống hiến toàn bộ thời gian và trí lực cho hoạt động. Nhà dân chủ không có tự do tài chính nhưng hoạt động tích cực thì mỗi khi ngưng lao động nuôi bản thân (và có khi cả gia đình) họ cần có hỗ trọ tài chính của tổ chức chi chính sinh hoạt của họ – tức là họ chỉ hoạt động theo mức độ được hỗ trợ tài chính, họ bị phụ thuộc tài chính…
Nếu một tổ chức có số thành viên có tự do tài chinh ít và số thành viên phụ thuộc tài chính nhiều hơn, và không có một nguồn thu nhập ổn định dạng một công ty độc lập của tổ chức thì tương lai của tổ chức đó là: chết yểu hoặc bị lệ thuộc vào kẻ sẽ cung cấp nguồn tài chính. Nếu các cá nhân ban điều hành của tổ chức là những kẻ phụ thuộc tài chính (lấy tiền của tổ chức dân chủ mà mình điều hành để sống, để sinh hoạt cá nhân) thì đó là tình huống tệ hại nhất của “bệnh tài chính”…
Tại sao tôi nói yếu kém tài chính cũng là “bệnh cộng sản”? Là vì cho đến hôm nay, dù cộng sản rất giàu mạnh về tài lực (dân nước thì nghèo đói) là do cộng sản cướp của dân của nước mà có, chứ không phải họ biết kinh doanh mà tạo nên nền kinh tế quốc gia hùng mạnh nên chính quyền hùng mạnh. Không có chuyện đó. Chúng vẫn chỉ là kẻ cướp năm xưa không hề biết kinh doanh, bằng chứng là các công ty nhà nước có mọi đặc quyền, vốn và và tài nguyên quốc gia vẫn chỉ luôn luôn thua lỗ, kể cả công ty lãi lời lớn nhất như dầu khí – bởi vì phần lời là do tài nguyên đất nước đem lại, không phải do lao động kém hiệu quả của họ làm ra…
Trong năm căn bệnh cộng sản trên, đáng buồn là căn bệnh thứ năm – bệnh tài chính lại phổ biến và trầm trọng nhất với người Việt, bốn căn bệnh đầu tiên dù sao cũng có tính tất yếu và chỉ là vấn đề bị nặng hay bị nhẹ mà thôi…
Bắt bệnh thì dễ, chữa bệnh mới khó. Ngày nay tôi thấy có nhiều “thầy lang ngoại cảm” ngồi nhà bắt bệnh qua điện thoại từ nhà, mà con bệnh –thường là các quan cộng sản lắm tiền nhiều bệnh – vẫn cuống cuồng gọi đến xin “khám” ào ào, tiền trả hậu hỉ…
Tôi nay phán bệnh miễn phí qua… Internet, xin mạo muội kê ra đơn trên cho phong trào dân chủ nhà ta, bằng cả tấm lòng chân tình, nếu sai, xin ông… Internet chịu trách nhiệm!

Ngăn trở tự do đi lại là phạm pháp

 theo Mặc Lâm, biên tập viên RFA, Bangkok

Blogger Nguyễn Hoàng Vi và gia đình muốn đi ra khỏi nhà liền bị một nhóm người bao vây không chế và không cho di chuyển

Blogger Nguyễn Hoàng Vi và gia đình muốn đi ra khỏi nhà liền bị một nhóm người bao vây không chế và không cho di chuyển

Quyền tự do đi lại mặc dù được quy định trong hiến pháp Việt Nam nhưng nhà cầm quyền vẫn công khai ngăn cấm công dân không được ra khỏi nơi cư trú, ngay cả với người không bị tòa án chề tài hay quản chế. Trường hợp mới nhất của chị Nguyễn Hoàng Vi tại TP-HCM cho thấy sự xem thường pháp luật ấy.

Trong vài năm gần đây công an mặc sắc phục lẫn thường phục, dân phòng và các lực lượng an ninh khác rải người bao vây nơi cư trú của người bất đồng chính kiến hay đã từng tham gia các cuộc biểu tình chống Trung Quốc, ngăn cản sự đi lại của họ một cách công khai và liên tục hết ngày này sang ngày khác trong một thời gian kéo dài nhiều tháng.

Người bảo vệ luật lại vi phạm luật

Việc làm này người dân đã quen thấy và họ đinh ninh rằng người bị bao vây, cô lập và thậm chí đàn áp buộc không được ra khỏi nhà là có vấn đề với pháp luật vì vậy việc làm của nhân viên an ninh hoàn toàn phù hợp với luật pháp. Có lẽ cách suy nghĩ đó của người dân đã phần nào làm cho ngành an ninh tự tin hơn trong việc làm phạm pháp của cơ quan mình.

Theo hiến pháp Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thì bất cứ người dân nào cũng có quyền đi lại mà không ai được phép cản trở, gây khó khăn cho họ.

Quyền hiến định ấy được Luật sư Bùi Quang Nghiêm khẳng định và theo ông sự truy cứu trách nhiệm của người thi hành hay ra lệnh là hoàn toàn có thể:

-Đó là hành vi vi phạm luật hình sự rồi thế nhưng mà có truy cứu trách nhiệm hình sự của cái người thực hiện hành vi đấy hay không thì lại phụ thuộc vào ý chỉ chủ quan của những người thừa hành tức là của những người quyết định cái việc đó trong ngành công an

Luật sư nhân quyền Lê Thị Công Nhân chia sẻ việc sách nhiễu tự do đi lại này qua kinh nghiệm của chính cá nhân bà:

-Những người đại diện cho cái gọi là nhà nước mà người ta luôn luôn nói là lịnh trên bảo họ làm như vậy thì tôi khẳng định việc làm này là hoàn toàn vi phạm pháp luật và cái lệnh trên đó không cần biết cấp trên cao đến mức nào thì cũng là một hành xử hoàn toàn vi phạm pháp luật.

Đó là hành vi vi phạm luật hình sự rồi thế nhưng mà có truy cứu trách nhiệm hình sự của cái người thực hiện hành vi đấy hay không thì lại phụ thuộc vào ý chỉ chủ quan của những người thừa hành tức là của những người quyết định cái việc đó trong ngành công an

Luật sư Bùi Quang Nghiêm

Không những nó vi phạm pháp luật mà nó còn đi ngược lại với pháp luật, tức là mức độ vi phạm nó rất là nghiêm trọng và việc hành xử như vậy nó không xảy ra riêng với cô Hoàng Vi mà nó xảy ra với rất nhiều người khác trên khắp đất nước Việt Nam từ Nam chí Bắc.

Vụ mới nhất xảy ra với blogger Nguyễn Hoàng Vi khi chị và gia đình muốn ra ngoài chơi liền bị một nhóm người bao vây không chế và không cho di chuyển. Blogger  Hoàng Vi kể lại:

-Khoảng 3 giờ chiều ngày 16 tháng 1 năm 2015 tôi cùng với gia đình đi chơi cuối tuần. Khi gia đình ra đón taxi để đi thì có hai người an ninh mặc thường phục chặn taxi lại không cho tài xế taxi chở gia đình chúng tôi. Khi đó tôi quyết định không đi taxi nữa mà cả nhà cùng đi bộ. Hôn phu tôi ẵm con bé 4 tháng tuổi đi bộ thì mấy người an ninh mặc thường phục tiếp tục ngăn cản và xô đẩy không cho tôi đi. Sau đó họ huy động bốn năm lực lượng gồm an ninh mặc thường phục và dân phòng để cản đường tôi. Họ bao vây cô lập tôi không cho tôi đi ra hay đi vào. Họ cũng cô lập không cho bất cứ người nào có thể tiếp cận được tôi.

Trước hành động ngang ngược và không tôn trọng pháp luật của họ tôi quyết định ngồi xuống ngay tại chỗ để phản đối việc ngăn cản quyền tự do đi lại của gia đình tôi. Từ trước tới giờ tôi chưa hề bị một bản án nào hết và cũng chưa có quyết định gì phải bị quản chế cả.

Ngày một trắng trợn và nghiêm trọng

Luật sư Lê Thị Công Nhân cho biết bà là người bị sách nhiễu trong thời gian quản chế nhưng sau đó công an vẫn tiếp tục hành xử như vậy và đôi khi còn nghiêm trọng hơn nữa, luật sư Công Nhân cho biết:

Những người đại diện cho cái gọi là nhà nước mà người ta luôn luôn nói là lịnh trên bảo họ làm như vậy thì tôi khẳng định việc làm này là hoàn toàn vi phạm pháp luật và cái lệnh trên đó không cần biết cấp trên cao đến mức nào thì cũng là một hành xử hoàn toàn vi phạm pháp luật

Luật sư Lê Thị Công Nhân

-Tôi là một người đã từng bị kết án hình sự và bị quản chế ba năm. Trong thời gian đó người ta bắt bớ tôi, ngăn cấm tôi đủ điều, phá hoại cuộc sống của tôi nhưng hết thời gian đó mọi chuyện vẫn không hề thay đổi. Thậm chí lúc gần đây chính quyền dân quân tự vệ, dân phòng, công an mặc quân phục và an ninh không mặc quân phục người ta mang bàn ghế người ta ngồi trước cửa nhà tôi người ta canh gác. Nhiều người khác nữa đã và đang tiếp tục bị như vậy.

Việc làm vi phạm pháp luật nghiêm trọng như thế mang tính hệ thống phổ biến từ rất lâu của họ và có lẽ họ sẽ không ngừng cách áp dụng này, thậm chí họ sẽ càng ngày càng áp dụng nó nhiều hơn bởi vì với chiêu trò người thi hành công vụ đó mặc thường phục cho nên rất khó cho nạn nhân bị họ trấn áp. Họ khó thể tố cáo sự việc ngay lúc đó cho người dân chung quanh ngay lúc ấy chứ đừng nói là đưa ra cho công luận bên ngoài để quốc tế người ta có thể lấy những hình ảnh sự việc đó làm bằng chứng.

Bà Trần Thị Nga, một người tranh đấu cho người lao động cũng từng nhiều lần bị cấm cản như thế, bà Nga cho biết:

-Người dân mình ngoài cái việc của cô Hoàng Vi bị như thế còn có người quay phim chụp ảnh để lấy bằng chứng được nhưng thực tế xã hội Việt Nam có rất nhiều người bị như vậy nhưng do không có người giúp quay phim chụp ảnh để đưa tin nên mọi người trên mạng hay xã hội không biết được có tình trạng như vậy.

Lập luận làm theo lời cấp trên của một số công an viên có thể là cách nói trốn trách nhiệm và việc này sẽ giảm thiểu nếu báo chí được phép phản ánh lại sự việc một cách công khai. Lúc ấy những cơ quan trách nhiệm sẽ biết mình có bị lợi dụng để nhân viên dưới quyền làm điều phi pháp hay không và điều chỉnh chính sách sai trái nếu có.

Người phụ nữ Việt Nam chiếm phân nửa dân số và thướng xuyên bị đàn áp bị chính quyền đánh đập rất nhiều và người phụ nữ còn bị thêm cái điều là khi bị bắt vào trong đồn công an thì thường bị công an họ lột quần áo họ xâm phạm thân thể, quấy rối tình dục

Bà Trần Thị Nga

Luật sư Bùi Quang Nghiêm cho biết ông đồng tình với việc công khai trên báo chí, ông nói:

-Tôi hoàn toàn ủng hộ việc báo chí lên tiếng, đưa tin một cách chính xác để cho người có quyền và có trách nhiệm phải hiều rõ vấn đề đó để xử lý.

Sự che dấu thông tin là nguyên nhân chính phát sinh các tổ chức xã hội dân sự. Hội Cựu tù nhân lương tâm, Hội Phụ nữ nhân quyền Việt Nam cùng hàng chục hội khác là những ví dụ rõ ràng nhất.

Nguyễn Hoàng Vi từng bị bao vây cô lập và cấm đi lại không phải một lần mà trước đây chị đã bị bắt vào đồn công an khi đứng quan sát biểu tình chống Trung Quốc. Hoàng Vi bị công an lột quần áo, quay phim như gái bán dâm và điều này từng gây bức xúc cho toàn xã hội khi nghe lời tường thuật của chị.

Đây là một nguyên nhân khiến Hội phụ nữ nhân quyền Việt Nam được thành lập để bảo vệ và bênh vực người phụ nữ bị nhà cầm quyền đàn áp, bách hại trong khi báo chí không được phép lên tiếng. Bà Trần Thị Nga, một thành viên của hội chia sẻ:

Người phụ nữ Việt Nam chiếm phân nửa dân số và thướng xuyên bị đàn áp bị chính quyền đánh đập rất nhiều và người phụ nữ còn bị thêm cái điều là khi bị bắt vào trong đồn công an thì thường bị công an họ lột quần áo họ xâm phạm thân thể, quấy rối tình dục. Phụ nữ chúng tôi rơi vào hoàn cảnh đấy chúng tôi không có sức để phản kháng như nam giới nên sự thiệt thòi của người phụ nữ nhiều hơn.

Chính vì thế mà chúng tôi đã lập Hội phụ nữ nhân quyền Việt Nam để có thể lên tiếng giúp đỡ cũng như chia sẻ với những phụ nữ bị bách hại.

Mặc dù ở Việt Nam nam giới bị bách hại rất nhiều nhưng phụ nữ chúng tôi hiểu được nỗi khổ và sự bất công mà nữ giới phải gánh chịu nên chúng tôi cố gắng thành lập Hội phụ nữ để chia sẻ cũng như đấu tranh bảo vệ quyền nữ giới.

Người dân Việt Nam tuy bận rộn với cơm áo hàng ngày nhưng dần dần cũng ý thức được tự do đi lại của họ là quyền được hiến pháp quy định vì thế đây là lúc UBND các nơi cần theo dõi cán bộ dưới quyền để bảo vệ quyền lợi chính đáng ấy của người dân bất kể họ là ai và làm gì miễn là không vi phạm pháp luật.

Hãy vì quyền biểu tình hiến định của người dân Việt Nam!

Nông dân vốn hiền lành chất phác sao vẫn phản kháng chính quyền?

Nông dân vốn hiền lành chất phác sao vẫn phản kháng chính quyền?


Phạm Chí Dũng

Một phần tư thế kỷ!

Động tác thuyết mị dân chúng về luật biểu tình đã làm nên một vết nhơ trơ trẽn cho gương mặt Hiến Pháp Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam.

Kể từ năm 1992 khi Hiến Pháp quốc gia này quy định về quyền biểu tình tự do của người dân, sau quá nhiều lần các quan chức Quốc Hội lẫn chính quyền thi nhau hứa hẹn về thứ bánh vẽ này, đã gần một phần tư thế kỷ lặng ngắt mà không trôi dạt một âm hưởng thiện tâm nào.

Ngay cả lần xuất hiện gần nhất với phát ngôn tưởng như sáng sủa nhất của Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng trước Quốc Hội vào cuối năm 2011 về sự cần thiết phải có luật biểu tình cũng trở nên hoàn toàn sáo rỗng, tính đến thời điểm này.

Chỉ nói mà không làm!

Quá trái ngược, làn sóng khiếu nại và tố cáo liên quan đến bồi thường đất đai đã nổi lên dữ dội từ những năm 2000 và kéo đến trào cao điểm vào những năm 2007-2008, khi nạn đầu cơ bất động sản lên đến đỉnh điểm và kéo theo vô số chiến dịch tống xuất người dân khỏi nơi chôn rau cắt rốn với giá bồi thường chỉ bằng 1/10-1/20 giá buôn bán trên thị trường.

Trên mảnh đất Việt đương đại và dồn dập tang thương bởi các nhóm lợi ích từ kinh tế đến chính trị, có quá nhiều lý do để người dân và trí thức tụ tập, cùng biểu thị nỗi uất ức về quốc nạn tham nhũng vô bờ bến và trạng thái hèn yếu khó có thể tồi tệ hơn của chính quyền trước bóng ma phương Bắc.

Giờ đây, không chỉ người dân mất đất đã hình thành một giai tầng dân oan lên đến hàng triệu người, mà cả nạn nhân môi trường, công nhân và tiểu thương cũng trở thành chứng nhân lịch sử cho một tâm can khao khát quyền biểu tình hướng đến một xã hội công dân đúng nghĩa.

Trong thực tế và chẳng cần đến luật biểu tình chưa biết khi nào mới được 500 đại biểu Quốc Hội đồng gật, từ năm 2007 đã diễn ra nhiều cuộc tuần hành và tọa kháng của dân oan đất đai. Năm 2011 đã làm nên dấu mốc lịch sử bởi hàng ngàn trí thức, nhân sĩ và người dân đã tổ chức hàng chục cuộc xuống đường để phản đối Trung Quốc, cùng truy vấn thái độ im lặng đầy khuất tất của đảng cầm quyền và chính phủ trước một bí mật bắt đầu bị hé lộ: Hội Nghị Thành Đô năm 1990.

Cải cách thể chế?

Điều 25 của Hiến Pháp năm 2013 cũng lặp lại bánh vẽ của Hiến Pháp 1992: Biểu tình là một quyền của công dân; quyền công dân và quyền con người chỉ có thể bị hạn chế bằng luật (Điều 14).

Nhưng từ cấp trung ương đến các địa phương, bất kỳ nơi nào xuất hiện bóng dáng biểu tình thì ngay lập tức “nhà nước của dân, do dân và vì dân” thẳng tay ngăn chặn và đàn áp, cho dù nếu cầu dẫn Hiến Pháp, quyền biểu thị của công dân không thể bị ngăn chặn bởi bất kỳ văn bản nào chưa từng là luật.

Thông điệp đầu năm 2014 của những người đứng đầu chính phủ dù bắt đầu bằng cụm từ “cải cách thể chế” và tiếp nối bởi mô hình chưa từng có về “nhà nước kiến tạo phát triển,” song chẳng có cái gì chứng minh là một nền dân chủ thực chất được song hành cùng cỗ xe tứ mã Bộ chính trị.

Thành tâm mà xét, chính phủ không thể có cải cách thể chế nếu không bắt đầu bằng việc tôn trọng quyền tự do biểu tình của công dân.

Luật biểu tình cần không chỉ cho người dân, mà còn cả cho chính quyền.

Đối với người dân, luật là sự bảo đảm, sự chỉ dẫn cho việc thực thi quyền biểu tình.

Đối với chính quyền, luật cung cấp các quyền năng, các công cụ pháp lý cần thiết cho việc điều chỉnh hành vi biểu tình. Một đạo luật biểu tình vừa bảo đảm được quyền của người dân, vừa bảo đảm được nền tảng pháp lý cho cách hành xử của chính quyền.

Người dân hành xử đúng, chính quyền hành xử đúng, chính quyền sẽ có được không chỉ đồng thuận xã hội mà còn cả trật tự an toàn xã hội.

Khi đó mới có thể không cắn rứt lương tâm để mở miệng cụm từ “cải cách thể chế.”

Phải ban hành ngay luật biểu tình!

Trong một xã hội Việt Nam tồn đọng và dồn nén quá nhiều bức xúc mang tính bùng nổ, người dân ngày càng nói nhiều đến việc tự cứu mình trước khi trời cứu.

Nhưng thực ra chẳng có trời đất nào chứng giám và cứu vớt cho nỗi khổ của những người dân mất đất, nếu họ không tự biết tìm đến lẽ công bằng nằm ngay trong trái tim và hành động của họ.

Xã hội dân sự và những hội nhóm mới manh nha của nó có thể là một liều thuốc an ủi và xoa dịu tình trạng bất công.

Điều may mắn là Hội Nhà Báo Độc Lập Việt Nam đã có được một nhóm luật sư, luật gia, chuyên gia có tâm huyết và chuyên môn. Trong ít tháng, nhóm này đã tổ chức nghiên cứu và xây dựng dự thảo luật biểu tình, trên cơ sở tham khảo thông lệ, văn bản quốc tế như Pháp, Đức, Hoa Kỳ và những điều kiện đặc thù của Việt Nam về biểu tình.

Quyền biểu tình rất đáng được xem là một trong những tiêu chí đầu tiên cho sự nghiệp dân chủ hóa ở Việt Nam, căn cứ vào quyền tự do biểu đạt (Điều 19, Điều 20); quyền tự do hội họp và lập hội (Điều 21, Điều 22) của Công Ước Quốc Tế Về Các Quyền Dân Sự và Chính Trị (ICCPR, 1966); Nghị Quyết 24 của Hội Đồng Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc 24 về cổ xúy và bảo vệ nhân quyền trong bối cảnh biểu tình ôn hòa ngày ngày 21 Tháng Ba, 2013.

Vì những lý do thiết thân ấy, Hội Nhà Báo Độc Lập Việt Nam rất mong mỏi các công dân Việt Nam và người Việt khắp nơi trên thế giới, cùng các tổ chức chính trị, xã hội, nghề nghiệp trong và ngoài Việt Nam ủng hộ cuộc vận động đề nghị và thảo luận về dự luật biểu tình tại Việt Nam, tạo tác động sâu sắc và có những hành động cần thiết đối với Nhà Nước và Quốc Hội Việt Nam để thông qua luật biểu tình ngay trong năm 2015.

Nếu không có dư luận và hành động, tương lai cấm cung của luật biểu tình sẽ đồng nghĩa với tuổi thọ của đảng cầm quyền.

Chỉ một ngày sau khi Hội Nhà Báo Độc Lập Việt Nam khởi xướng phong trào vận động đề xuất và thảo luận về dự luật biểu tình (26 Tháng Hai), báo Tuổi Trẻ đã công bố một văn bản thường được xếp vào độ “Mật”: Chính phủ vừa có tờ trình Quốc Hội, đề nghị lùi thời điểm trình luật biểu tình thêm một năm, đến Tháng Mười, 2016.

Trước đó, Quốc Hội đã “gợi ý” sẽ nhận việc trình luật biểu tình vào Tháng Năm, 2015 và sẽ thông qua luật này vào cuối năm.

Còn lần này, dự luật biểu tình do Hội Nhà Báo Độc Lập Việt Nam soạn thảo đang được công bố lấy ý kiến rộng rãi trên Internet và sau đó đúc kết, chuyển giao kết quả dự luật hoàn chỉnh cho các cơ quan nhà nước như Quốc Hội, chính phủ và các bộ liên quan.

Bất kể thái độ tiếp đón dự luật biểu tình của Quốc Hội và các cơ quan nhà nước như thế nào, ít nhất xã hội dân sự phải có được tiếng nói đồng âm với tình cảnh thiệt thòi của người dân.

nguồn: http://www.nguoi-viet.com/