Quyền tự do đi lại, tự do cư trú

(Ảnh minh họa)

Điều 68 Hiến pháp Việt Nam 1992 qui định:

“Công dân có quyền tự do đi lại và cư trú ở trong nước, có quyền ra nước ngoài và từ nước ngoài về nước theo quy định của pháp luật.”

Quyền tự do đi lại, tự do cư trú theo qui định của Hiến pháp được hiểu là: Công dân Việt Nam được tư do đi lại, tự do cư trú trong lãnh thổ Việt Nam. Được quyền rời khỏi lãnh thổ Việt Nam và được quyền trở về nước mà không bị cản trở. Bởi vì:

Thứ nhất, tự do đi lại là điều kiện không thể thiếu đối với sự phát triển tự do của mỗi cá nhân và nó là điều kiện để thực hiện những quyền khác theo qui định của Hiến pháp.

Thứ hai, quyền tự do đi lại, tự do cư trú của công dân Việt Nam không phụ thuộc vào mục đích hay lý do của việc đi lại hay lựa chọn nơi cư trú.

Thứ ba, quyền tự do cư trú của công dân được bảo đảm rằng khi bị buộc phải rời khỏi nơi đang cư trú hoặc không được đến cư trú ở một nơi khác thì điều này phải được qui định bằng luật và chính quyền phải thực hiện theo đúng trình tự pháp luật.

Thứ tư, quyền tự do ra nước ngoài không phụ thuộc vào nước đến, thời gian và mục đích ở lại bên ngoài nước Việt Nam. Quyền này bao gồm cả quyền ra nước ngoài để làm việc, tham quan cũng như để cư trú lâu dài.

Thứ năm, để bảo đảm quyền ra nước ngoài thì công dân Việt Nam được bảo đảm quyền cấp hoặc gia hạn hộ chiếu hay các giấy tờ có liên quan. Một người không được cấp hay gia hạn hộ chiếu thì đồng nghĩa với việc quyền ra nước ngoài của người đó bị tước đoạt.

Thứ sáu, công dân Việt Nam là người có quốc tịch Việt Nam và có quyền trở về Tổ quốc của mình. Quyền này không thể bị tước đoạt trong mọi trường hợp.

Quyền tự do đi lại và cư trú trong nước, quyền ra nước ngoài của công dân Việt Nam có thể bị hạn chế. Việc hạn chế này phải được qui định trong luật và khi thực hiện phải theo đúng trình tự và thẩm quyền mà luật đã qui định.

Điều 10 luật cư trú qui định các trường hợp bị hạn chế quyền tự do cư trú:

1. Người bị cơ quan tiến hành tố tụng có thẩm quyền áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú.

2. Người bị Toà án áp dụng hình phạt cấm cư trú; người bị kết án phạt tù nhưng chưa có quyết định thi hành án, được hưởng án treo hoặc đang được hoãn, tạm đình chỉ thi hành án phạt tù; người đang bị quản chế.

3. Người bị áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở chữa bệnh, cơ sở giáo dục nhưng đang được hoãn chấp hành hoặc tạm đình chỉ thi hành.

                                                                                                                    @VNHRC